Vũ Thị Lan Anh
Giới thiệu về bản thân
t
Thế giới đang chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của thế hệ Z – những người sinh ra trong kỷ nguyên số. Tuy nhiên, đi kèm với sự năng động đó là không ít những "nhãn dán" tiêu cực: "thế hệ bông tuyết" dễ vỡ, lười lao động, hay "kẻ nổi loạn" thiếu kiên nhẫn. Từ góc nhìn của một người trong cuộc, tôi cho rằng những định kiến này phần lớn đến từ sự khoảng cách về hệ giá trị và thiếu sự thấu hiểu giữa các thế hệ. Trước hết, định kiến về việc Gen Z "lười biếng" hay "thích nhảy việc" thường xuất phát từ việc chúng ta thay đổi ưu tiên trong công việc. Thay vì chọn "ổn định" suốt đời tại một vị trí, Gen Z tìm kiếm sự phù hợp và giá trị cá nhân. Chúng ta không ngại rời bỏ một môi trường độc hại để bảo vệ sức khỏe tinh thần. Với Gen Z, làm việc không chỉ là tồn tại mà là cống hiến gắn liền với đam mê. Sự "thiếu kiên nhẫn" mà người lớn thường nói, thực chất là tốc độ và sự đòi hỏi tính hiệu quả trong thời đại công nghệ 4.0. Thứ hai, về lối sống bị cho là "sống ảo", Gen Z thực tế đang tận dụng quyền năng của Internet để tạo ra những giá trị thật. Những chiến dịch bảo vệ môi trường, những nội dung sáng tạo truyền cảm hứng hay việc kinh doanh trực tuyến từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là minh chứng rõ nhất. Chúng ta không chỉ nhìn vào màn hình điện thoại để giải trí, chúng ta dùng nó để kết nối, học tập và thay đổi thế giới theo cách riêng. Đặc biệt, cái danh xưng "thế hệ bông tuyết" (nhạy cảm, dễ tổn thương) thường được dùng để mỉa mai sự yếu đuối. Nhưng nhìn sâu hơn, đó là sự tiến bộ trong nhận thức về sức khỏe tâm thần. Gen Z dám thừa nhận mình không ổn, dám đi tìm sự giúp đỡ của tâm lý học – điều mà các thế hệ trước đôi khi phải kìm nén và chịu đựng trong thầm lặng. Sự nhạy cảm này chính là lòng trắc ẩn và là nền tảng cho một xã hội thấu cảm hơn. Tất nhiên, không thể phủ nhận một bộ phận nhỏ Gen Z vẫn còn những khiếm khuyết trong thái độ sống. Nhưng thay vì quy chụp bằng những định kiến khắc nghiệt, xã hội cần một cái nhìn bao dung và cởi mở hơn. Gen Z không cần được "dán nhãn", chúng ta cần được "lắng nghe". Tóm lại, mỗi thế hệ đều có những sứ mệnh và thách thức riêng. Gen Z với bản sắc khác biệt đang nỗ lực khẳng định mình. Thay vì dựng lên những bức tường định kiến, hãy cùng nhau xây dựng những nhịp cầu thấu hiểu để tuổi trẻ được rực rỡ và cống hiến hết mình cho xã hội.Thái độ sống tích cực chính là "chiếc chìa khóa vàng" mở ra cánh cửa hạnh phúc và thành công cho mỗi người. Trước hết, sự lạc quan giúp chúng ta nhìn nhận khó khăn như những thử thách cần chinh phục thay vì rào cản không thể vượt qua, từ đó tạo ra động lực mạnh mẽ để hành động và kiên trì với mục tiêu. Người có lối sống tích cực luôn làm chủ được cảm xúc, giảm bớt căng thẳng và bảo vệ sức khỏe tinh thần trước những áp lực của cuộc sống hiện đại. Không chỉ có lợi cho bản thân, thái độ này còn lan tỏa năng lượng ấm áp, truyền cảm hứng và niềm tin cho những người xung quanh, giúp xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp và gắn kết cộng đồng. Khi nhìn đời bằng lăng kính tươi sáng, chúng ta sẽ biết trân trọng những gì mình đang có và tìm thấy niềm vui ngay trong những điều nhỏ bé nhất. Ngược lại, nếu chỉ mãi bi quan và than vãn, con người sẽ tự giới hạn năng lực và đánh mất những cơ hội quý giá. Tóm lại, thái độ sống tích cực không làm cho khó khăn biến mất, nhưng nó thay đổi cách chúng ta đối diện với chúng, biến nghịch cảnh thành bàn đạp để vươn tới một cuộc đời ý nghĩa và trọn vẹn hơn.
Câu 1. (2 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật "tôi" trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Lúc nhỏ: Nhân vật "tôi" vì hứng thú với một câu chuyện về giới động vật mà vẽ bức tranh con trăn nuốt chửng con thú. Từ đó, nhân vật "tôi" liên tục vẽ tranh và hỏi cảm nhận của người lớn về bức tranh ấy, thế nhưng chú bé năm ấy phải đối diện với hiện thực là:
++ Người lớn không hiểu được bức vẽ của chú.
++ Người lớn không khích lệ cậu bé, cũng như không thể hiện điều mà chú bé mong đợi.
++ Người lớn khuyên chú bé hãy chú tâm học các môn văn hóa lúc bấy giờ mà không nghĩ đến cảm nhận của chú.
=> Chính sự vô cảm, thiếu tinh tế này của những người lớn mà nhân vật "tôi" thất vọng, đành từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ, chấp nhận sống như những gì mà người lớn mong muốn.
+ Khi lớn lên, nhân vật "tôi" trở thành phi công, đi nhiều nơi, gặp nhiều người nhưng những con người ấy vẫn mang những "bản chất của người lớn" năm nào. Dường như người lớn đều thực dụng, ít tưởng tượng, mộng mơ và vô cảm, nhạt nhẽo. Dẫu vậy, nhân vật "tôi" vẫn ôm hi vọng gặp được người giống mình. Hễ gặp ai sáng sủa, nhân vật này lại mang bức tranh cũ ra để hỏi cảm nhận của người đó. Nhưng khi nhận được câu trả lời chả khác bao với thời thơ ấu, nhân vật "tôi" lại buộc lòng hạ thấp chính mình, quay trở về làm một người lớn chính hiệu: Phải sống một cuộc sống tầm thường, tẻ nhạt, phải trò chuyện với những người lớn thực dụng, thờ ơ về những chủ đề tầm thường trong cuộc sống (bài bạc, đấu bóng, chính trị, cà vạt).
=> HS dựa trên những cảm nhận cá nhân để rút ra nhận xét về nhân vật này.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2. (4 điểm)
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". (Giacomo Leopardi)
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
– Giải thích ý kiến: Ý kiến của Giacomo Leopardi gồm 2 vế:
+ Vế 1: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì": Giải thích ý nghĩa của cụm "chẳng có gì" (tức là thế giới đơn giản, ít vật chất, giàu trí tưởng tượng). Từ đó, có thể thấy, trẻ em có khả năng tìm thấy niềm vui, sự kỳ diệu từ những điều nhỏ nhặt, giản đơn, bình dị nhất trong cuộc sống.
+ Vế 2: "Người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả": Giải thích ý nghĩa của từ "tất cả" (đó là một cuộc sống đầy đủ vật chất). Từ đó, ta có thể hiểu rằng dù người lớn có sống trong một thế giới đủ đầy nhưng họ vẫn không có được hạnh phúc thật sự vì tâm hồn họ đã trở nên khô cằn, mất đi khả năng cảm nhận, tận hưởng cuộc sống do những lo toan, áp lực trong cuộc sống thường ngày.
– Phân tích các khía cạnh của vấn đề:
+ Sự khác biệt trong nhận thức, cách tiếp cận: Trẻ con nhìn thế giới bằng con mắt tò mò, khám phá. Người lớn nhìn thế giới qua lăng kính của kinh nghiệm, định kiến và lo toan.
+ Sự khác biệt về cách cảm nhận: Trẻ con có trí tưởng tượng phong phú, biến những điều bình thường thành phi thường. Người lớn thường bị giới hạn bởi tư duy logic, thực dụng nên càng khó cảm nhận được cái đẹp từ những điều bình dị, nhỏ bé.
=> Trẻ con biết trân trọng những điều nhỏ nhặt, tìm thấy niềm vui từ những điều nhỏ bé. Trong khi đó, người lớn vì thường chạy theo những giá trị vật chất nên đã bỏ qua những điều giản dị mà ý nghĩa. Nguyên do là bởi cuộc sống hiện đại có nhiều áp lực, cạnh tranh khiến người lớn mất đi sự hồn nhiên, lạc quan, vui vẻ trong cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh.
– Bàn luận: Thế nhưng trong cuộc sống hiện nay, dù chúng ta nghiêng quá về cái nhìn nào cũng là điều bất cập. Bởi:
+ Nếu nghiêng về cái nhìn hồn nhiên thì sẽ dần xa rời cuộc sống, chìm đắm trong những ảo mộng hão huyền.
+ Nếu nghiêng về cái nhìn thực tế thì sẽ dần trở nên khô khan, tẻ nhạt và không tìm thấy được hạnh phúc thật sự đang tồn tại xung quanh chúng ta.
=> HS tự liên hệ với bản thân và rút ra bài học: Cần có cái nhìn đúng đắn, hài hòa giữa những cách nhìn để vừa giữ được sự hồn nhiên trong tâm hồn, học được cách cảm nhận những vẻ đẹp bình dị trong cuộc sống, vừa giữ được cái nhìn thực tế, chín chắn trong cuộc sống.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1. (2 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật "tôi" trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Lúc nhỏ: Nhân vật "tôi" vì hứng thú với một câu chuyện về giới động vật mà vẽ bức tranh con trăn nuốt chửng con thú. Từ đó, nhân vật "tôi" liên tục vẽ tranh và hỏi cảm nhận của người lớn về bức tranh ấy, thế nhưng chú bé năm ấy phải đối diện với hiện thực là:
++ Người lớn không hiểu được bức vẽ của chú.
++ Người lớn không khích lệ cậu bé, cũng như không thể hiện điều mà chú bé mong đợi.
++ Người lớn khuyên chú bé hãy chú tâm học các môn văn hóa lúc bấy giờ mà không nghĩ đến cảm nhận của chú.
=> Chính sự vô cảm, thiếu tinh tế này của những người lớn mà nhân vật "tôi" thất vọng, đành từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ, chấp nhận sống như những gì mà người lớn mong muốn.
+ Khi lớn lên, nhân vật "tôi" trở thành phi công, đi nhiều nơi, gặp nhiều người nhưng những con người ấy vẫn mang những "bản chất của người lớn" năm nào. Dường như người lớn đều thực dụng, ít tưởng tượng, mộng mơ và vô cảm, nhạt nhẽo. Dẫu vậy, nhân vật "tôi" vẫn ôm hi vọng gặp được người giống mình. Hễ gặp ai sáng sủa, nhân vật này lại mang bức tranh cũ ra để hỏi cảm nhận của người đó. Nhưng khi nhận được câu trả lời chả khác bao với thời thơ ấu, nhân vật "tôi" lại buộc lòng hạ thấp chính mình, quay trở về làm một người lớn chính hiệu: Phải sống một cuộc sống tầm thường, tẻ nhạt, phải trò chuyện với những người lớn thực dụng, thờ ơ về những chủ đề tầm thường trong cuộc sống (bài bạc, đấu bóng, chính trị, cà vạt).
=> HS dựa trên những cảm nhận cá nhân để rút ra nhận xét về nhân vật này.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2. (4 điểm)
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". (Giacomo Leopardi)
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
– Giải thích ý kiến: Ý kiến của Giacomo Leopardi gồm 2 vế:
+ Vế 1: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì": Giải thích ý nghĩa của cụm "chẳng có gì" (tức là thế giới đơn giản, ít vật chất, giàu trí tưởng tượng). Từ đó, có thể thấy, trẻ em có khả năng tìm thấy niềm vui, sự kỳ diệu từ những điều nhỏ nhặt, giản đơn, bình dị nhất trong cuộc sống.
+ Vế 2: "Người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả": Giải thích ý nghĩa của từ "tất cả" (đó là một cuộc sống đầy đủ vật chất). Từ đó, ta có thể hiểu rằng dù người lớn có sống trong một thế giới đủ đầy nhưng họ vẫn không có được hạnh phúc thật sự vì tâm hồn họ đã trở nên khô cằn, mất đi khả năng cảm nhận, tận hưởng cuộc sống do những lo toan, áp lực trong cuộc sống thường ngày.
– Phân tích các khía cạnh của vấn đề:
+ Sự khác biệt trong nhận thức, cách tiếp cận: Trẻ con nhìn thế giới bằng con mắt tò mò, khám phá. Người lớn nhìn thế giới qua lăng kính của kinh nghiệm, định kiến và lo toan.
+ Sự khác biệt về cách cảm nhận: Trẻ con có trí tưởng tượng phong phú, biến những điều bình thường thành phi thường. Người lớn thường bị giới hạn bởi tư duy logic, thực dụng nên càng khó cảm nhận được cái đẹp từ những điều bình dị, nhỏ bé.
=> Trẻ con biết trân trọng những điều nhỏ nhặt, tìm thấy niềm vui từ những điều nhỏ bé. Trong khi đó, người lớn vì thường chạy theo những giá trị vật chất nên đã bỏ qua những điều giản dị mà ý nghĩa. Nguyên do là bởi cuộc sống hiện đại có nhiều áp lực, cạnh tranh khiến người lớn mất đi sự hồn nhiên, lạc quan, vui vẻ trong cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh.
– Bàn luận: Thế nhưng trong cuộc sống hiện nay, dù chúng ta nghiêng quá về cái nhìn nào cũng là điều bất cập. Bởi:
+ Nếu nghiêng về cái nhìn hồn nhiên thì sẽ dần xa rời cuộc sống, chìm đắm trong những ảo mộng hão huyền.
+ Nếu nghiêng về cái nhìn thực tế thì sẽ dần trở nên khô khan, tẻ nhạt và không tìm thấy được hạnh phúc thật sự đang tồn tại xung quanh chúng ta.
=> HS tự liên hệ với bản thân và rút ra bài học: Cần có cái nhìn đúng đắn, hài hòa giữa những cách nhìn để vừa giữ được sự hồn nhiên trong tâm hồn, học được cách cảm nhận những vẻ đẹp bình dị trong cuộc sống, vừa giữ được cái nhìn thực tế, chín chắn trong cuộc sống.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
- Sự day dứt và khao khát: Lão Goriot khao khát được gặp con đến mức tuyệt vọng ("chết mà không được gặp các con gái", "luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống"), thể hiện tình phụ tử mãnh liệt và bi kịch bị ruồng bỏ.
- Lời cảnh tỉnh: Qua câu "Con phải yêu quý cha mẹ con", lão muốn nhắn nhủ, cảnh báo Rastignac và người đọc về tầm quan trọng của tình cảm gia đình, sự hiếu thảo, tránh đi vào vết xe đổ của các con gái lão.
Bản năng yêu thương của người cha
Sự khao khát này xuất phát từ bản năng và tình yêu thương vô bờ bến của người cha. Dù bị đối xử tệ bạc và trong cơn tức giận đã nguyền rủa con, nhưng sâu thẳm trong tim, lão vẫn chỉ mong muốn được nhìn thấy các con lần cuối trước khi chết. Tình phụ tử đã chiến thắng mọi sự oán giận và lý trí. Câu 5. Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot. Bi kịch đau đớn và cô độc Tình cảnh cuối đời của lão Goriot vô cùng bi thảm và đáng thương:- Nghèo khổ và cô độc: Lão chết trong cảnh không một xu dính túi, không người thân bên cạnh chăm sóc.
- Đau đớn về tinh thần: Nỗi đau lớn nhất không phải là cái chết mà là sự ghẻ lạnh, vô tâm của chính những đứa con mình hết mực yêu thương, dồn hết tài sản để chúng có cuộc sống sung túc.
- Lời tố cáo: Tình cảnh của lão là lời tố cáo mạnh mẽ thói vị kỷ, sự suy đồi đạo đức và sức mạnh tha hóa của đồng tiền trong xã hội tư sản lúc bấy giờ.
câu2
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở giới trẻ hiện nay là vấn đề cấp thiết. Dù có xu hướng "sính ngoại" ở một bộ phận, nhiều bạn trẻ đang sáng tạo kết hợp nét cổ truyền với hiện đại, tạo nên bản sắc "hòa nhập không hòa tan", giữ vững "hồn cốt" dân tộc. Văn hóa truyền thống là di sản vô giá, bao gồm các phong tục, tập quán, ngôn ngữ, nghệ thuật dân gian và đạo lý tốt đẹp mà cha ông để lại. Đó là căn cước định danh của dân tộc, tạo nên sự khác biệt giữa Việt Nam và thế giới. Trong thời đại toàn cầu hóa, việc gìn giữ văn hóa không chỉ bảo vệ bản sắc mà còn là cách để khẳng định vị thế quốc gia. Hiện nay, ý thức của giới trẻ về vấn đề này có sự phân hóa rõ rệt. Một mặt, dưới tác động của văn hóa ngoại lai, một bộ phận thanh thiếu niên có xu hướng lãng quên truyền thống, chạy theo các xu hướng mới, "sính ngoại", thậm chí làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Tuy nhiên, một bộ phận lớn khác lại cho thấy sự trân trọng văn hóa dân tộc thông qua các hành động tích cực: yêu thích và quảng bá áo dài, cổ phục, âm nhạc dân tộc (như nhạc của Hoàng Thùy Linh, Đức Phúc), hay tham gia phục dựng các lễ hội truyền thống. Các bạn trẻ đang "làm mới" văn hóa bằng cách kết hợp những yếu tố truyền thống vào các sản phẩm hiện đại, giúp văn hóa không bị mai một mà trái lại, trở nên hấp dẫn hơn với thế hệ trẻ. Để việc bảo tồn hiệu quả, giới trẻ cần chủ động tìm hiểu, trau dồi tri thức về văn hóa dân tộc. Thay vì chỉ "tiếp thu thụ động", hãy "kế thừa sáng tạo". Nhà trường và xã hội cần tổ chức thêm nhiều hoạt động, các sân chơi trải nghiệm thực tế để khơi gợi tình yêu văn hóa trong giới trẻ. Tóm lại, văn hóa còn thì dân tộc còn. Giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống không phải là trở nên lạc hậu, mà là giữ vững cội nguồn để tự tin vươn ra thế giới. Thế hệ trẻ, với tư duy sáng tạo và lòng yêu nước, chính là những người nắm giữ tương lai của văn hóa Việt Nam.Văn bản "Khán Thiên gia thi hữu cảm" được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt (bốn câu, mỗi câu bảy chữ). 2. Luật thơ Answer: Luật trắc, vần bằng
Bài thơ tuân thủ niêm luật chặt chẽ của thơ Đường luật:
- Câu 1: Hiện đại thi trung ưng hữu thiết (Trắc - Trắc - Bằng - Bằng - Bằng - Trắc - Trắc) -> Chữ thứ 2 là "đại" (trắc) nên là luật trắc.
- Bài thơ gieo vần bằng ở cuối câu 1, 2, 4 (thiết - thiết - xung phong -> vần "thiết" và "phong" có thể không hoàn toàn chuẩn vần trong ngữ âm hiện đại nhưng tuân theo quy tắc cổ).
Biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng qua hình ảnh "thi trung ưng hữu thiết" (trong thơ nên có thép) và "thi gia dã yếu hội xung phong"(nhà thơ cũng phải biết xung phong).
- Tác dụng: Nhấn mạnh quan điểm của Hồ Chí Minh về chức năng của thi ca, đặc biệt trong thời chiến. Thơ ca không chỉ là nghệ thuật miêu tả cảnh đẹp mà phải có tính chiến đấu, tinh thần cứng cỏi và người cầm bút cũng phải là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa.
Tác giả cho rằng "Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong" vì:
- Đất nước đang trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, cần những vũ khí sắc bén để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân.
- Thơ ca cách mạng phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ nhiệm vụ chính trị, góp phần đấu tranh giải phóng dân tộc.
- Nhà thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải dấn thân, trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh, lấy ngòi bút làm vũ khí.
Cấu tứ của bài thơ "Khán Thiên gia thi hữu cảm" rất chặt chẽ:
- Hai câu đầu: Dẫn dắt từ việc đọc sách cổ (Thiên gia thi) để nhận ra hạn chế của thơ xưa chỉ chú trọng miêu tả phong cảnh (yên - hoa - tuyết - nguyệt).
- Hai câu sau: Từ nhận thức đó, Bác đưa ra quan điểm mới về thơ ca hiện đại: phải có sức mạnh của "thép" và tinh thần "xung phong" của nhà thơ.
- Cấu trúc bài thơ đi từ quan sát, nhận xét đến tư tưởng, quan điểm, thể hiện tư duy sắc sảo và tình yêu nước sâu sắc