Vũ Ánh Ngọc

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vũ Ánh Ngọc
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)


Câu 1.



Ngôi kể trong văn bản: Ngôi thứ nhất (nhân vật “tôi” kể chuyện).





Câu 2.



Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ con trăn đang nuốt một con voi.





Câu 3.



Người lớn khuyên cậu bé chú trọng học các môn văn hóa vì họ không hiểu ý nghĩa bức vẽ và cho rằng việc vẽ vời không quan trọng, họ nghĩ nên tập trung học những môn được coi là cần thiết như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp.





Câu 4.



Những người lớn trong văn bản được miêu tả là thiếu trí tưởng tượng, nhìn nhận sự việc hời hợt và không hiểu thế giới của trẻ em.


Nhận xét:

Họ quá thực tế, cứng nhắc và không biết lắng nghe, thấu hiểu suy nghĩ và trí tưởng tượng phong phú của trẻ em.





Câu 5.



Bài học rút ra từ văn bản:


  • Cần tôn trọng trí tưởng tượng và ước mơ của trẻ em.
  • Không nên đánh giá mọi thứ một cách hời hợt.
  • Người lớn cần lắng nghe và thấu hiểu trẻ em hơn.



Phương trình điện phân dung dịch NaCl: 

\(2 N a C l + 2 H_{2} O 2 N a O H + C l_{2} + H_{2}\)

Khối lượng NaOH thu được ứng với mỗi lít nước muối bão hòa ban đầu:

\(m_{N a O H} = \frac{300 - 220}{58 , 5} . 40.0 , 8 = 43 , 8 \left(\right. g \left.\right)\).

Để bảo vệ vỏ tàu biển khỏi bị ăn mòn có thể sử dụng một tấm kim loại kẽm gắn vào vỏ tàu biển vì kẽm hoạt động mạnh hơn sắt trong thép nên kẽm sẽ bị ăn mòn thay sắt. Ngoài ra có thể sơn lên vỏ tàu biển để hạn chế vỏ tàu bị ăn mòn.

1) Fe + CuSO4 → FeSO4 + Cu

(2) Fe + Fe2(SO4)3 → 3FeSO4

(3) Fe + 2AgNO3 → Fe(NO3)2 + 2Ag

(4) Fe + Pb(NO3)2 →  Fe(NO3)2 + Pb

Gang và thép đều là hợp kim của sắt, trong đó:

- Gang: 95% sắt, 2 - 5% carbon, còn lại là các nguyên tố khác.

- Thép: ít hơn 2% carbon và một số nguyên tố khác như chromium, manganese, silicon,...

Câu 1. 

Ngôi kể: Ngôi thứ ba.

Câu 2. 

Đề tài: Tình phụ tử.

Câu 3. 

– HS bộc lộ suy nghị, cảm xúc của bản thân về lời nói của lão Goriot với Rastignac và có những lí giải hợp lí. 

– Lời nói của lão Goriot thể hiện những điều sau: 

+ Lão dặn dò Rastignac phải hiếu thảo với cha mẹ chàng vì lão hiểu được sự bất hạnh của người làm cha, làm mẹ khi không được con cái yêu thương, kề cận. 

+ Lời dặn dò thể hiện nỗi đau đớn, xót xa khi không được nhìn mặt các con trước phút lâm chung, đồng thời cho thấy sự tủi thân, nỗi buồn thảm của lão khi thiếu sự yêu thương, quan tâm của các con trong suốt mười năm ròng rã. 

=> Lời dặn dò cho thấy sự đáng thương của lão Goriot - một người cha yêu con sâu sắc nhưng nhận lại chỉ là sự đắng cay, lạnh lẽo. 

Câu 4. 

– HS cần lí giải được lí do lão Goriot khát khao được gặp mặt các con trước phút lâm chung dù trước đó lão đã than trách, thậm chí là nguyền rủa những đứa con bất hiếu. 

– Lí do: Dù chua xót nhận ra sự thật rằng các con không hề yêu thương mình thật lòng, chúng chỉ yêu thương ông, tìm đến ông để bòn rút tiền của, đến khi ông không còn gì nữa, chúng bỏ mặc ông không màng sống chết, nhưng ông vẫn khát khao được gặp các con vì tình yêu thương, lòng bao dung của ông dành cho hai cô con gái rất rộng lớn. Đó chính là tình cảm đáng quý của người cha già này. Ông yêu con, sẵn sàng hi sinh vì con, bao dung với con cái mình mà không cầu các con hồi đáp lại những gì ông đã trao cho chúng. 

Câu 5. 

– HS dựa vào những chi tiết trong văn bản để rút ra nhận xét và lí giải phù hợp về hoàn cảnh của lão Goriot vào những giây phút cuối đời. 

– Cần bám sát các ý sau: 

+ Lão khát khao, mong chờ các con tới gặp mặt lần cuối nhưng kết cục là ra đi khi chưa hoàn thành được tâm nguyện. 

+ Những giây phút cuối đời, người ở bên lão chỉ là chàng sinh viên Rastignac và Bianchon. 

=> Hoàn cảnh đáng thương, đầy xót xa.


câu 1

Bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm thể hiện quan niệm sâu sắc về thơ ca của Hồ Chí Minh. Hai câu thơ đầu khái quát đặc điểm của thơ cổ phương Đông: thường nghiêng về vẻ đẹp thiên nhiên với hình ảnh núi, sông, hoa, tuyết, trăng, gió đầy chất trữ tình. Qua đó, tác giả cho thấy sự tinh tế và giá trị thẩm mỹ truyền thống của thơ xưa. Tuy nhiên, ở hai câu cuối, Người đưa ra một quan niệm mới mẻ: thơ ca hiện đại cần có “thép” và nhà thơ phải biết “xung phong”. “Thép” ở đây tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, ý chí kiên cường và trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc. Thơ ca không chỉ để thưởng thức mà còn phải góp phần thức tỉnh lòng yêu nước và cổ vũ đấu tranh. Với cấu tứ chặt chẽ, lập luận giàu sức thuyết phục và tư tưởng tiến bộ, bài thơ đã thể hiện rõ quan điểm nghệ thuật cách mạng: văn chương phải gắn với cuộc sống, phục vụ nhân dân và đất nước.

Câu 2

Trong dòng chảy hội nhập và phát triển mạnh mẽ của thế giới hiện đại, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trở thành trách nhiệm quan trọng, đặc biệt đối với giới trẻ. Văn hóa truyền thống là bản sắc riêng của mỗi dân tộc, được hình thành và tích lũy qua hàng nghìn năm lịch sử. Đó là tiếng Việt, phong tục tập quán, trang phục truyền thống, lễ hội dân gian, nghệ thuật dân tộc, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng hiếu thảo và tinh thần đoàn kết cộng đồng.


Trước hết, việc bảo tồn văn hóa truyền thống giúp thế hệ trẻ hiểu rõ cội nguồn dân tộc và nuôi dưỡng lòng tự hào về đất nước. Khi hiểu về lịch sử, phong tục và các giá trị đạo đức truyền thống, người trẻ sẽ có nền tảng tinh thần vững chắc để phát triển nhân cách. Bên cạnh đó, bản sắc văn hóa còn giúp Việt Nam khẳng định vị thế riêng trong quá trình hội nhập quốc tế. Một đất nước phát triển nhưng vẫn giữ được truyền thống sẽ tạo nên sức hấp dẫn và giá trị bền vững.


Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, một bộ phận giới trẻ đang dần xa rời các giá trị truyền thống. Sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa ngoại lai, lối sống thực dụng và thói quen tiêu dùng hiện đại khiến nhiều bạn trẻ ít quan tâm đến phong tục, lễ nghi hay nghệ thuật dân gian. Một số người thậm chí xem nhẹ tiếng mẹ đẻ, thờ ơ với lịch sử dân tộc hoặc chạy theo xu hướng mà quên đi bản sắc riêng.


Vì vậy, giới trẻ cần có ý thức gìn giữ và phát huy văn hóa truyền thống bằng những hành động thiết thực. Trước hết, mỗi người cần tìm hiểu lịch sử, học hỏi các giá trị văn hóa dân tộc và sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực. Việc mặc áo dài trong dịp lễ, tham gia lễ hội truyền thống, bảo tồn nghệ thuật dân gian hay quảng bá văn hóa Việt Nam qua mạng xã hội đều là những cách góp phần lan tỏa bản sắc dân tộc. Đồng thời, việc tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới cần được thực hiện có chọn lọc, tránh hòa tan mà phải biết kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại.


Nhà trường và gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ. Các hoạt động ngoại khóa, tham quan di tích lịch sử, tổ chức lễ hội dân gian trong trường học sẽ giúp học sinh tiếp cận văn hóa một cách sinh động và gần gũi.


Giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống không có nghĩa là bảo thủ hay từ chối cái mới, mà là biết trân trọng giá trị cốt lõi và phát triển chúng trong đời sống hiện đại. Khi giới trẻ ý thức được trách nhiệm của mình, bản sắc văn hóa dân tộc sẽ tiếp tục được gìn giữ và tỏa sáng, trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.



Câu 1. 

Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

Câu 2. 

Căn cứ vào chữ thứ hai của dòng thơ thứ nhất là chữ “thi” – luật bằng, suy ra bài thơ được triển khai theo luật bằng

Câu 3

Biện pháp liệt kê trong câu:


“Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong”


Liệt kê: núi – sông – khói – hoa – tuyết – trăng – gió.


Tác dụng:

• Gợi vẻ đẹp phong phú của thiên nhiên trong thơ cổ.

• Thể hiện cảm hứng thẩm mỹ truyền thống.

• Làm nổi bật đặc điểm thơ xưa thiên về miêu tả cảnh đẹp.

• Tạo nền đối lập để làm bật tư tưởng thơ hiện đại ở hai câu sau.

Câu 4

Hai câu:


Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,

Thi gia dã yếu hội xung phong.


Lý do:


Đất nước đang trong cảnh mất độc lập, nhân dân khổ cực.

Thơ ca không chỉ để thưởng thức mà phải phục vụ cách mạng.

“Thép” tượng trưng cho:

• tinh thần chiến đấu

• ý chí kiên cường

• sức mạnh đấu tranh

Nhà thơ không chỉ viết mà còn phải dấn thân hành động.

Câu 5

Cấu tứ bài thơ rất chặt chẽ và logic:


Hai câu đầu:

→ Nhận xét về thơ cổ: thiên về thiên nhiên, vẻ đẹp trữ tình.


Hai câu sau:

→ Quan niệm thơ hiện đại: phải mang tinh thần chiến đấu.


Cách cấu tứ:

so sánh – đối lập – phát triển tư tưởng


→ làm nổi bật quan điểm mới về thơ ca cách mạng.


Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du là một minh chứng tiêu biểu cho giá trị nhân đạo sâu sắc của văn học trung đại Việt Nam. Về nội dung, đoạn trích đã khắc họa hàng loạt số phận con người bất hạnh trong xã hội cũ: người lính chết nơi chiến trận, người phụ nữ lỡ làng, kẻ hành khất đầu đường xó chợ… Dù xuất thân khác nhau, họ đều là những con người bị cuộc đời vùi dập, sống trong đau khổ và chết trong cô đơn, oan khuất. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện tấm lòng xót thương chân thành đối với “thập loại chúng sinh”, những kiếp người nhỏ bé, bị lãng quên. Về nghệ thuật, đoạn trích gây ấn tượng bởi ngôn ngữ giàu sức gợi, đặc biệt là việc sử dụng từ láy như “lập lòe”, “văng vẳng” tạo nên không gian u ám, ám ảnh, đậm màu sắc tâm linh. Giọng điệu ai oán, thương cảm cùng kết cấu liệt kê đã làm nổi bật nỗi đau chung của con người, qua đó khẳng định giá trị nhân đạo bền vững của tác phẩm.


Câu 1.

Đoạn trích sử dụng các phương thức biểu đạt chính là biểu cảm và tự sự, trong đó biểu cảm là phương thức chủ đạo; ngoài ra còn kết hợp yếu tố miêu tả nhằm làm nổi bật cảnh ngộ và số phận con người.


Câu 2.

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích gồm:


  • Người lính bị bắt đi lính, chết nơi chiến trận.
  • Người phụ nữ lỡ làng, phải “buôn nguyệt bán hoa”.
  • Người phụ nữ bất hạnh, sống khổ đau, chết cô độc.
  • Người hành khất, sống lang thang, chết nơi đầu đường xó chợ.



Câu 3.

Việc sử dụng các từ láy “lập lòe”, “văng vẳng” đã gợi tả rõ nét không gian mờ ảo, u tối của cõi âm. Những từ láy này tạo âm hưởng buồn thương, ám ảnh, làm nổi bật nỗi oan khuất, đau đớn của những linh hồn bất hạnh, qua đó thể hiện sâu sắc lòng xót thương của tác giả.


Câu 4.


  • Chủ đề: Khắc họa những số phận con người bất hạnh trong xã hội cũ.
  • Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo sâu sắc, xuất phát từ lòng thương xót, đồng cảm của Nguyễn Du đối với những kiếp người đau khổ, bị lãng quên.



Câu 5.

Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống nhân đạo là một giá trị bền vững của dân tộc ta. Người Việt luôn biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh. Truyền thống ấy được thể hiện qua tinh thần “lá lành đùm lá rách”, qua các tác phẩm văn học giàu lòng nhân ái. Ngày nay, truyền thống nhân đạo vẫn tiếp tục được gìn giữ và phát huy trong đời sống hiện đại. Điều đó góp phần làm nên vẻ đẹp tâm hồn và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.