Nguyễn Thu Trà
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. (2 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích bài thơ ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Là người cha yêu thương con sâu sắc, suốt đời suy nghĩ vì con:
++ Vì muốn con được đặt chân vào giới quý tộc để con cái mình nhận được sự kính trọng trong xã hội, ông đã gả hai con cho những người quý tộc giàu có.
++ Dù nhận ra các con không yêu thương mình thật lòng nhưng vẫn cho các con thứ chúng muốn.
++ Đến tận lúc chết vẫn lo cho con, vẫn muốn làm việc để kiếm tiền cho hai cô con gái.
+ Nhận xét:
++ Yêu thương con lầm lạc, mù quáng.
++ Kết cục là phải ra đi trong sự thờ ơ, lạnh nhạt của hai cô con gái.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2. (4 điểm)
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về sự xa cách giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện đại.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
– Thực trạng: Ngày nay mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái ngày càng xa cách.
– Biểu hiện:
+ Cha mẹ, con cái ít chia sẻ, giao tiếp với nhau trong cuộc sống hằng ngày.
+ Con cái dành quá nhiều thời gian cho các thiết bị điện tử, mạng xã hội, ít tương tác với gia đình.
+ ...
– Nguyên nhân:
+ Cha mẹ bận bịu với guồng quay công việc trong đời sống hối hả ngày nay.
+ Sự phát triển nhanh chóng, đa dạng của các phương tiện truyền thông, sản phẩm công nghệ.
+ Sự khác biệt về quan điểm sống, lối sống giữa hai thế hệ.
+ Quan điểm giáo dục của bố mẹ chưa phù hợp khi áp đặt, thiếu tôn trọng ý kiến của con cái.
– Hậu quả:
+ Ảnh hưởng đến tâm lí con cái: Cảm giác cô đơn, thiếu thốn tình cảm, dễ bị tổn thương, có thể dẫn đến các vấn đề tâm lý như trầm cảm, lo âu.
+ Ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con cái: Thiếu sự định hướng, giáo dục từ cha mẹ, con cái dễ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tiêu cực từ xã hội.
+ Ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình: Mâu thuẫn, xung đột gia tăng, không khí gia đình căng thẳng, ngột ngạt.
+ Ảnh hưởng đến xã hội: Các vấn đề xã hội như bạo lực gia đình, tội phạm vị thành niên có thể xuất phát từ sự xa cách trong gia đình.
– Giải pháp:
+ Cha mẹ cần dành nhiều thời gian để quan tâm, chăm sóc, trò chuyện cùng con cái.
+ Con cái cũng cần chủ động giúp đỡ, bày tỏ tình cảm với cha mẹ.
+ Cha mẹ, con cái cần có sự tôn trọng nhau.
+ Tăng cường những bữa ăn, hoạt động gia đình để tăng sự gắn kết giữa các thành viên.
+ Nhà trường, xã hội cần đẩy mạnh giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp cho các con; hỗ trợ cha mẹ trong việc giao tiếp, chia sẻ, định hướng cho các con.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1.
Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Câu 2.
Đề tài: Tình phụ tử.
Câu 3.
– HS bộc lộ suy nghị, cảm xúc của bản thân về lời nói của lão Goriot với Rastignac và có những lí giải hợp lí.
– Lời nói của lão Goriot thể hiện những điều sau:
+ Lão dặn dò Rastignac phải hiếu thảo với cha mẹ chàng vì lão hiểu được sự bất hạnh của người làm cha, làm mẹ khi không được con cái yêu thương, kề cận.
+ Lời dặn dò thể hiện nỗi đau đớn, xót xa khi không được nhìn mặt các con trước phút lâm chung, đồng thời cho thấy sự tủi thân, nỗi buồn thảm của lão khi thiếu sự yêu thương, quan tâm của các con trong suốt mười năm ròng rã.
=> Lời dặn dò cho thấy sự đáng thương của lão Goriot - một người cha yêu con sâu sắc nhưng nhận lại chỉ là sự đắng cay, lạnh lẽo.
Câu 4.
– HS cần lí giải được lí do lão Goriot khát khao được gặp mặt các con trước phút lâm chung dù trước đó lão đã than trách, thậm chí là nguyền rủa những đứa con bất hiếu.
– Lí do: Dù chua xót nhận ra sự thật rằng các con không hề yêu thương mình thật lòng, chúng chỉ yêu thương ông, tìm đến ông để bòn rút tiền của, đến khi ông không còn gì nữa, chúng bỏ mặc ông không màng sống chết, nhưng ông vẫn khát khao được gặp các con vì tình yêu thương, lòng bao dung của ông dành cho hai cô con gái rất rộng lớn. Đó chính là tình cảm đáng quý của người cha già này. Ông yêu con, sẵn sàng hi sinh vì con, bao dung với con cái mình mà không cầu các con hồi đáp lại những gì ông đã trao cho chúng.
Câu 5.
– HS dựa vào những chi tiết trong văn bản để rút ra nhận xét và lí giải phù hợp về hoàn cảnh của lão Goriot vào những giây phút cuối đời.
– Cần bám sát các ý sau:
+ Lão khát khao, mong chờ các con tới gặp mặt lần cuối nhưng kết cục là ra đi khi chưa hoàn thành được tâm nguyện.
+ Những giây phút cuối đời, người ở bên lão chỉ là chàng sinh viên Rastignac và Bianchon.
=> Hoàn cảnh đáng thương, đầy xót xa.
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích bài thơ ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Về nội dung:
++ Hai dòng thơ đầu: Nhận định của tác giả về thơ xưa: Thơ xưa chuộng miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên: Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió. Phác họa cảnh đẹp thiên nhiên, miêu tả khoảnh khắc giao hòa giữa con người với thiên nhiên chính là một trong những nét đặc sắc của cổ thi Trung Quốc. Tác giả yêu thơ ca, trân trọng vẻ đẹp mà cổ thi mang lại nhưng Người không đồng tình với cái khuôn sáng tác đó trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Dựa trên hiện thực lúc đó, Người đã nêu lên quan điểm mới về thơ nay.
++ Hai dòng thơ cuối: Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, trong thơ ca, người nghệ sĩ cần lồng vào đó “chất thép”, tức là thả vào đó tinh thần chiến đấu, cống hiến mạnh mẽ cho đất nước, phục vụ cách mạng. Và những người nghệ sĩ lúc này cũng cần có ý thức “xung phong” trên mặt trận văn học, nghệ thuật đấu tranh với quân thù, góp phần đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.
+ Về nghệ thuật:
++ Ngôn ngữ hàm súc, trang trọng.
++ Sử dụng phép đối linh hoạt, vừa tạo nên sự đối sánh giữa thơ xưa và thơ nay vừa thể hiện sự hài hòa, thống nhất, khẳng định được ý nghĩa, sự tất yếu của việc thay đổi về tư duy sáng tác thơ ca lúc bấy giờ.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ở giới trẻ hiện nay.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
– Thực trạng: Hiện nay, giới trẻ ngày càng có ý thức hơn trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
– Biểu hiện:
+ Biết trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc: Tết Nguyên đán, Tết Hàn thực, lễ hội làng,…
+ Biết giữ gìn và ưu tiên sử dụng những sản phẩm thủ công truyền thống: Gốm sứ, mây tre đan, lụa tơ tằm,…
+ Có ý thức tái hiện, quảng bá những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc qua các phương tiện truyền thông. (Ví dụ: Tiktoker Tuyết Mai đã quay nhiều video ngắn giới thiệu về trang phục ở các triều đại của dân tộc ta nhằm giúp cho các bạn trẻ Việt Nam thêm hiểu, thêm yêu trang phục truyền thống, thêm trân trọng văn hóa truyền thống của dân tộc.)
+ …
– Ý nghĩa:
+ Giúp giới trẻ hiểu rõ cội nguồn, lịch sử của dân tộc, từ đó nâng cao lòng tự hào, ý thức trách nhiệm đối với dân tộc.
+ Lan tỏa, nâng cao tinh thần yêu nước trong mỗi cá nhân.
+ Góp phần giữ gìn những nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc trong bối cảnh hội nhập nhiều thách thức.
+ Tô đậm bản sắc riêng của dân tộc trên trường quốc tế.
+ Tạo ấn tượng đẹp đẽ, độc đáo trong lòng bạn bè quốc tế.
– Bàn luận: Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại một bộ phận các bạn trẻ có xu hướng sính ngoại, chê bai những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc.
– Nguyên nhân:
+ Thiếu hiểu biết về văn hóa truyền thống: Nhiều bạn trẻ vì ảnh hưởng của môi trường sống mà thiếu hiểu biết về những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc, vì thế mà thiếu sự trân trọng đối với những nét đẹp văn hóa đó.
+ Sùng bái văn hóa ngoại lai, coi nhẹ văn hóa dân tộc: Tình trạng này là hệ quả của quá trình hội nhập quốc tế và sự du nhập của văn hóa ngoại lai.
+ Sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông khiến giới trẻ bị cuốn hút, không còn hứng thú với các hoạt động, sự kiện văn hóa truyền thống của dân tộc.
+ Chương trình giáo dục chưa thực sự chú trọng đến việc giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
– Giải pháp:
+ Gia đình cần chú trọng giáo dục những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc cho con ngay từ khi còn nhỏ, tạo điều kiện cho con tham gia các hoạt động văn hóa tại địa phương.
+ Nhà trường cần chú trọng giáo dục về những nét đẹp văn hóa truyền thống nhiều hơn, tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa về văn hóa.
+ Xã hội cần tăng cường tuyên truyền, quảng bá về văn hóa truyền thống trên các phương tiện truyền thống; đồng thời đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của mỗi địa phương, dân tộc.
+ Mỗi bạn trẻ cần có ý thức tự giác tìm hiểu, học hỏi về các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tích cực tham gia tuyên truyền, quảng bá những giá trị đó.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1.
Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 2.
Căn cứ vào chữ thứ hai của dòng thơ thứ nhất là chữ “thi” – luật bằng, suy ra bài thơ được triển khai theo luật bằng
Câu 3.
– HS chỉ ra được mổt biện pháp tu từ trong văn bản: Phép đối, phép liệt kê.
– HS nêu tác dụng của một biện pháp tu từ mà các em ấn tượng. Câu 4.
– HS diễn giải cách hiểu về hai dòng thơ và có sự lí giải hợp lí. Ở đây, HS cần bám vào hoàn cảnh sáng tác của bài thơ, bối cảnh xã hội lúc bấy giờ để thấy rằng sự thay đổi về nội dung sáng tác theo quan điểm của Bác là tất yếu.
Câu 5.
– HS dựa vào bố cục, mạch cảm xúc của bài thơ để rút ra nhận xét về cấu tứ của bài thơ:
+ Bố cục: Bao gồm 2 phần: Hai câu đầu nói về thơ xưa, hai câu sau nói về thơ nay.
+ Mạch cảm xúc: Hai câu thơ đầu thể hiện sự trân trọng đối với vẻ đẹp thơ xưa, hai câu sau thể hiện sự cởi mở, khuyến khích sự đổi mới về nội dung thơ ca, tư duy sáng tác trong thời đại mới.
=> Bài thơ có kết cấu chặt chẽ, vừa tương phản, đối lập, vừa hài hòa, thống nhất. Đặt thơ xưa với thơ nay trong sự đối lập, tác giả không nhằm hạ thấp thơ xưa, trái lại Người rất trân trọng, yêu thích thơ xưa, nhưng Người không đồng tình với quan điểm sáng tác đó. Nên Người đã nêu lên quan niệm nghệ thuật của mình về thơ nay – cần có “chất thép” ở trong thơ, để thơ ca trở thành một thứ vũ khí sắc bén, còn anh chị em sáng tác sẽ là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, văn nghệ.
Câu 3
Văn bản ghi chép về sự việc nhân vật "tôi" là một nhà báo, vào vai một người thất nghiệp đi xin việc, gia nhập vào đội phụ kéo xe ở Hà Nội để có những trải nghiệm chân thực về công việc này, phục vụ cho việc viết bài