Hà Quốc Việt

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hà Quốc Việt
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)



Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

- Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn gồm 3 khổ, mỗi khổ 5 câu.

- Đây là thể thơ tự do, không tuân thủ nghiêm ngặt luật bằng trắc, phù hợp với tinh thần phóng khoáng của Thơ mới.


Câu 2. Nhận xét về nhịp thơ của bài thơ.

- Nhịp thơ chủ yếu là 2/3 và 3/2, linh hoạt, gấp gáp, dồn dập, thể hiện tâm trạng bất an, khắc khoải của người đang yêu.

- Nhịp ngắt liên tục, nhiều câu thơ ngắn, câu hỏi tu từ và điệp khúc "Yêu, là chết ở trong lòng một ít" tạo cảm giác dồn nén, day dứt.

- Nhịp thơ góp phần diễn tả sự mâu thuẫn, giằng xé trong tâm hồn khi yêu.


Câu 3. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

- Đề tài: Tình yêu lứa đôi.

- Chủ đề: Bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu đầy bi kịch và mãnh liệt của Xuân Diệu: yêu là chấp nhận đau khổ, mất mát, là sự cho đi nhiều nhưng nhận lại chẳng bao nhiêu. Tình yêu gắn liền với sự cô đơn, lạc lối và nỗi buồn sâu thẳm.


Câu 4. Phân tích ý nghĩa của một hình ảnh tượng trưng mà em thấy ấn tượng trong văn bản.

Chọn hình ảnh: "Và cảnh đời là sa mạc cô liêu."

- Ý nghĩa:

- "Sa mạc cô liêu" là hình ảnh ẩn dụ gợi ra sự hoang vắng, khô cằn, lạnh lẽo và cô đơn tột cùng.

- Với Xuân Diệu, khi yêu mà không được đáp lại, khi tình yêu rơi vào bế tắc thì cả thế giới xung quanh trở nên hoang vu, vô nghĩa.

- Hình ảnh này cho thấy sự tuyệt vọng, lạc lõng của người đang yêu đơn phương hoặc yêu trong đau khổ. Nó cũng thể hiện quan niệm yêu của Xuân Diệu: yêu là đánh đổi, là chịu đựng sự trống vắng ngay trong tâm hồn mình.


Câu 5. Văn bản gợi cho em những cảm nhận và suy nghĩ gì?

Bài thơ "Yêu" khiến em cảm nhận được sự chân thành và dữ dội trong tình yêu của Xuân Diệu. Tình yêu không chỉ có ngọt ngào mà còn có cả đau khổ, hy sinh và mất mát. Đọc bài thơ, em hiểu rằng yêu là dám cho đi, dám chấp nhận tổn thương. Đồng thời, bài thơ cũng nhắc nhở em về sự trân trọng tình cảm của người khác: nếu đã yêu, đừng "phụ" hay "thờ ơ" để người kia phải "chết ở trong lòng một ít". Với em, tình yêu đẹp nhất là tình yêu có sự đồng cảm và sẻ chia.





Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

- Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn gồm 3 khổ, mỗi khổ 5 câu.

- Đây là thể thơ tự do, không tuân thủ nghiêm ngặt luật bằng trắc, phù hợp với tinh thần phóng khoáng của Thơ mới.


Câu 2. Nhận xét về nhịp thơ của bài thơ.

- Nhịp thơ chủ yếu là 2/3 và 3/2, linh hoạt, gấp gáp, dồn dập, thể hiện tâm trạng bất an, khắc khoải của người đang yêu.

- Nhịp ngắt liên tục, nhiều câu thơ ngắn, câu hỏi tu từ và điệp khúc "Yêu, là chết ở trong lòng một ít" tạo cảm giác dồn nén, day dứt.

- Nhịp thơ góp phần diễn tả sự mâu thuẫn, giằng xé trong tâm hồn khi yêu.


Câu 3. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ.

- Đề tài: Tình yêu lứa đôi.

- Chủ đề: Bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu đầy bi kịch và mãnh liệt của Xuân Diệu: yêu là chấp nhận đau khổ, mất mát, là sự cho đi nhiều nhưng nhận lại chẳng bao nhiêu. Tình yêu gắn liền với sự cô đơn, lạc lối và nỗi buồn sâu thẳm.


Câu 4. Phân tích ý nghĩa của một hình ảnh tượng trưng mà em thấy ấn tượng trong văn bản.

Chọn hình ảnh: "Và cảnh đời là sa mạc cô liêu."

- Ý nghĩa:

- "Sa mạc cô liêu" là hình ảnh ẩn dụ gợi ra sự hoang vắng, khô cằn, lạnh lẽo và cô đơn tột cùng.

- Với Xuân Diệu, khi yêu mà không được đáp lại, khi tình yêu rơi vào bế tắc thì cả thế giới xung quanh trở nên hoang vu, vô nghĩa.

- Hình ảnh này cho thấy sự tuyệt vọng, lạc lõng của người đang yêu đơn phương hoặc yêu trong đau khổ. Nó cũng thể hiện quan niệm yêu của Xuân Diệu: yêu là đánh đổi, là chịu đựng sự trống vắng ngay trong tâm hồn mình.


Câu 5. Văn bản gợi cho em những cảm nhận và suy nghĩ gì?

Bài thơ "Yêu" khiến em cảm nhận được sự chân thành và dữ dội trong tình yêu của Xuân Diệu. Tình yêu không chỉ có ngọt ngào mà còn có cả đau khổ, hy sinh và mất mát. Đọc bài thơ, em hiểu rằng yêu là dám cho đi, dám chấp nhận tổn thương. Đồng thời, bài thơ cũng nhắc nhở em về sự trân trọng tình cảm của người khác: nếu đã yêu, đừng "phụ" hay "thờ ơ" để người kia phải "chết ở trong lòng một ít". Với em, tình yêu đẹp nhất là tình yêu có sự đồng cảm và sẻ chia.





Câu 1. Đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ phân tích bài thơ "Khán 'Thiên gia thi' hữu cảm"


Bài thơ "Khán 'Thiên gia thi' hữu cảm" của Hồ Chí Minh là tiếng nói của một tâm hồn chiến sĩ – thi sĩ trong cảnh ngục tù. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, hàm súc và chặt chẽ. Hai câu đầu, Bác đối chiếu thơ xưa với thiên nhiên tươi đẹp: "Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ, / Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong". Đó là thế giới của thi ca cổ điển, nơi con người giao hòa với sơn thủy, yên hoa, tuyết nguyệt. Nhưng ngay lập tức, ở hai câu sau, giọng thơ chuyển mạnh mẽ, dứt khoát: "Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong". Hình ảnh "có thép", "xung phong" là ẩn dụ độc đáo, thể hiện quan niệm thơ ca cách mạng: thơ không chỉ để vịnh cảnh mà phải mang tinh thần chiến đấu, cổ vũ tinh thần yêu nước. Biện pháp đối lập giữa "thơ xưa" và "thơ nay", giữa "yêu cảnh đẹp" và "có thép" làm nổi bật tư tưởng đổi mới của Bác. Ngôn ngữ thơ cô đọng, giọng điệu vừa trang trọng vừa hào sảng, thể hiện khí phách của người chiến sĩ. Qua bài thơ, ta thấy ở Hồ Chí Minh sự kết hợp hài hòa giữa tâm hồn nghệ sĩ tinh tế và bản lĩnh người cộng sản kiên trung. Thơ của Người không chỉ đẹp mà còn có sức mạnh hành động.




Câu 2. Bài văn nghị luận khoảng 600 chữ: Ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của giới trẻ hiện nay


Mở bài

Văn hóa truyền thống là linh hồn, là bản sắc của mỗi dân tộc. Đối với Việt Nam, đó là kho tàng quý giá được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Trong thời đại hội nhập, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt trong thế hệ trẻ, là vấn đề có ý nghĩa sống còn.


Thân bài


1. Giải thích

Giữ gìn, bảo tồn văn hóa truyền thống là việc bảo vệ những giá trị vật thể và phi vật thể như lễ hội, phong tục, tiếng Việt, ẩm thực, nghệ thuật dân gian. Phát huy là làm cho những giá trị ấy sống động, phù hợp với thời đại, lan tỏa trong đời sống hiện đại.


2. Thực trạng

Hiện nay, một bộ phận giới trẻ có ý thức tích cực trong việc tìm hiểu, quảng bá văn hóa dân tộc qua mạng xã hội, các dự án cộng đồng, mặc áo dài, học múa sạp, hát quan họ. Nhiều bạn trẻ sáng tạo nội dung về văn hóa trên TikTok, YouTube, góp phần đưa văn hóa Việt ra thế giới.

Tuy nhiên, vẫn còn không ít bạn thờ ơ, chạy theo văn hóa ngoại lai, quên tiếng mẹ đẻ, không biết đến các làn điệu dân ca, lễ hội truyền thống. Một số xem văn hóa truyền thống là "lỗi thời", "không hợp trend".


3. Nguyên nhân

- Tác động của toàn cầu hóa, mạng xã hội khiến văn hóa ngoại dễ xâm nhập.

- Giáo dục về văn hóa truyền thống trong nhà trường và gia đình chưa đủ hấp dẫn, sinh động.

- Một số giá trị truyền thống chưa được làm mới để phù hợp với giới trẻ.


4. Ý nghĩa và giải pháp

Giữ gìn văn hóa truyền thống giúp thế hệ trẻ không "mất gốc", có bản lĩnh để hội nhập mà không hòa tan. Để làm được điều đó, cần:

- Đổi mới cách giáo dục văn hóa trong trường học, đưa văn hóa vào trải nghiệm thực tế.

- Giới trẻ chủ động học hỏi, sáng tạo, dùng công nghệ để quảng bá văn hóa.

- Nhà nước và xã hội có chính sách bảo tồn, đầu tư cho các không gian văn hóa, nghệ thuật truyền thống.


Kết bài

Mỗi người trẻ hôm nay hãy là một "đại sứ văn hóa". Giữ gìn không có nghĩa là đóng kín, mà là biết chọn lọc, làm mới để văn hóa dân tộc luôn sống, luôn đẹp trong dòng chảy hiện đại. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Và thế hệ trẻ chính là người cầm ngọn đèn ấy.





Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

- Bài thơ viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật: 4 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo vần ở cuối câu 1, 2, 4.


Câu 2. Xác định luật của bài thơ.

- Bài thơ theo luật Bằng - Trắc của thơ Đường luật.

- Cụ thể: câu 1 và 3 kết thúc bằng thanh bằng, câu 2 và 4 kết thúc bằng thanh trắc.

- Gieo vần "mỹ - phong - thiết - phong" ở cuối câu 1, 2, 4.


Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong bài thơ.

- Biện pháp đối ở câu 3 và 4:

_"Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,

Thi gia dã yếu hội xung phong."_

_Dịch: "Trong thơ thời nay nên có thép,

Nhà thơ cũng phải biết xung phong."_

- Tác dụng:

- Tạo nhịp điệu cân đối, nhấn mạnh sự đối lập giữa thơ xưa và thơ nay.

- Hình ảnh "có thép", "xung phong" là ẩn dụ, thể hiện yêu cầu thơ ca thời kháng chiến phải mang tính chiến đấu, cổ vũ tinh thần cách mạng.

- Làm nổi bật tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh: thơ không chỉ vịnh cảnh mà phải phục vụ cách mạng, có sức mạnh như vũ khí.


Câu 4. Theo em, vì sao tác giả lại cho rằng “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong.”?

- Vì bài thơ được viết năm 1942-1943 khi Bác bị giam ở nhà lao Tưởng Giới Thạch, trong bối cảnh đất nước đang trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc kháng chiến cứu nước 1939–1945.

- Bối cảnh lịch sử đòi hỏi văn học nghệ thuật phải phục vụ cách mạng, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí chiến đấu.

- Thơ xưa thường vịnh cảnh, thiên về cái đẹp tĩnh lặng. Còn thơ thời nay phải "có thép" – tức có tinh thần chiến đấu, mạnh mẽ, và nhà thơ phải "biết xung phong" – xung phong trên mặt trận văn hóa, tư tưởng.


Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ.

- Cấu tứ chặt chẽ, logic, phát triển theo hướng đối lập và phát triển:

- 2 câu đầu: Nói về thơ xưa – thiên về yêu thiên nhiên, cảnh đẹp, mang màu sắc cổ điển, tĩnh tại.

- 2 câu sau: Đối lại, khẳng định thơ nay phải khác – phải có "thép", có tinh thần chiến đấu, nhà thơ phải xung phong.

- Cấu tứ này thể hiện rõ quan niệm thơ ca cách mạng của Hồ Chí Minh: kế thừa tinh hoa thơ cổ nhưng phải đổi mới để phù hợp với thời đại, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng.

- Ngôn ngữ hàm súc, cô đọng, giọng thơ vừa trang trọng vừa mạnh mẽ, thể hiện khí phách người chiến sĩ – thi sĩ.

Bài 2 - Đề kiểm tra cuối học kì II


Câu 1. (2.0 điểm) Đoạn văn 200 chữ: Suy nghĩ về việc bảo tồn di tích lịch sử


Di tích lịch sử là "căn cước" của mỗi dân tộc, nơi lưu giữ hồn cốt cha ông qua nghìn năm. Nhìn Vạn Lý Trường Thành đang "biến mất dần" vì thời gian và con người, ta càng thấy bảo tồn di tích hiện nay là mệnh lệnh khẩn cấp. Bảo tồn không phải để "đóng khung" quá khứ, mà để thế hệ trẻ có nơi chạm vào lịch sử bằng xương thịt, để hiểu cái giá của hòa bình hôm nay. Nếu để di tích xuống cấp, bị thương mại hóa, hay lãng quên, ta sẽ đánh mất gốc rễ, mất đi điểm tựa tinh thần để đi tới tương lai. Vì vậy, mỗi người cần nâng cao ý thức: không xả rác, khắc vẽ bậy tại di tích; nhà nước cần có chính sách trùng tu khoa học, kết hợp bảo tồn với phát triển du lịch bền vững. Như cách người xưa dùng gạo nếp để giữ Vạn Lý Trường Thành vững chãi, chúng ta cũng cần "chất kết dính" là tình yêu và trách nhiệm để giữ gìn di sản dân tộc.


Câu 2. (4.0 điểm) Dàn ý + Bài làm 600 chữ: Phân tích "Đồng dao cho người lớn" - Nguyễn Trọng Tạo


Dàn ý:

Mở bài: Giới thiệu tác giả Nguyễn Trọng Tạo, bài thơ Đồng dao cho người lớn 1992. Khái quát: bài thơ dùng hình thức đồng dao để nói về thế sự, về những nghịch lý của đời sống.

Thân bài:

- Nội dung:

- Hiện thực xót xa: Những nghịch lý trớ trêu "rừng chết vẫn xanh trong tôi", "sống mà như qua đời", "cha mẹ có trẻ mồ côi". Phản ánh xã hội nhiều bất công, tha hóa, con người mất niềm tin.

- Khát vọng nhân văn: Dù đau đớn, tác giả vẫn tin "thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ", "đời vẫn say mà hồn vẫn gió". Khẳng định sức sống, niềm tin vào cái đẹp, cái thiện không mất đi.

- Triết lý thời gian: "có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi" - đời người ngắn ngủi, hãy sống có ý nghĩa.

- Nghệ thuật:

- Thể đồng dao: Điệp từ "có" + cấu trúc liệt kê tạo nhịp như lời ru, nhưng nội dung lại rất "người lớn", tạo nghịch lý thú vị.

- Hình ảnh tương phản: "rừng chết - xanh", "sống - qua đời", "vui nho nhỏ - buồn mênh mông" khắc sâu bi kịch thời đại.

- Giọng điệu: Vừa xót xa, cay đắng vừa thiết tha, hy vọng.

Kết bài: Khẳng định giá trị bài thơ. Liên hệ: Bài thơ là lời cảnh tỉnh người lớn sống tỉnh thức, nhân ái hơn giữa cuộc đời nhiều đảo điên.


Bài làm hoàn chỉnh 600 chữ:

Năm 1992, Nguyễn Trọng Tạo viết Đồng dao cho người lớn, mượn hình thức trong trẻo của đồng dao để chuyên chở những trăn trở thế sự đầy gai góc. Bài thơ là bản tổng kết những nghịch lý đau lòng của một thời.


Mở đầu, tác giả đã gây chấn động bằng nghịch lý: "có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi". Rừng đã chết nhưng vẫn "xanh" trong ký ức, đó là nỗi đau mất mát môi trường, mất mát niềm tin. Nỗi đau ấy nối dài thành chuỗi bi kịch: "có con người sống mà như qua đời" - tồn tại sinh học nhưng chết về tâm hồn; "có cha có mẹ có trẻ mồ côi" - đủ đầy hình thức nhưng thiếu vắng tình thương. Xã hội đảo điên đến mức "câu trả lời biến thành câu hỏi", "kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới", mọi giá trị bị đánh tráo. Nỗi buồn thì "mênh mông", còn niềm vui chỉ "nho nhỏ". Nguyễn Trọng Tạo đã vẽ bức tranh xám xịt về con người và thời đại mình sống bằng thủ pháp tương phản gay gắt.


Nhưng chất "người" của nhà thơ không dừng ở tiếng thở dài. Sau hàng loạt chữ "có" chất chồng bi kịch, ông đột ngột chuyển sang chữ "mà" đầy hy vọng: "mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ / mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió". Dù rừng chết, người vô cảm, dù đời nhiều dối trá, thì dòng sông cuộc đời vẫn chảy, cỏ vẫn xanh, con người vẫn say đắm và tâm hồn vẫn lộng gió. Đó là tuyên ngôn về sức sống bất diệt, về niềm tin không thể dập tắt. Khổ cuối "có thương có nhớ có khóc có cười" trở về với quy luật muôn đời của kiếp người. Và câu kết "có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi" vụt lên thành triết lý: đời người ngắn như chớp mắt so với nghìn năm, vì thế hãy sống cho tử tế.


Thành công của bài thơ còn ở nghệ thuật độc đáo. Tác giả dùng thể đồng dao, điệp từ "có" cùng lối liệt kê để tạo nhịp như lời ru, lời đếm của trẻ con. Nhưng nội dung lại là chuyện "người lớn" đầy máu và nước mắt. Sự đối lập này khiến nỗi đau càng nhức nhối, lời nhắn nhủ càng thấm thía. Các hình ảnh tương phản "chết - xanh", "sống - qua đời", "vui - buồn" được đặt cạnh nhau xoáy vào tâm can người đọc.


Đồng dao cho người lớn vì thế không ru ngủ mà đánh thức. Nó buộc người lớn nhìn thẳng vào những "cánh rừng chết" trong mình, để rồi biết trân trọng màu xanh còn lại, biết "thương, nhớ, khóc, cười" cho ra một kiếp người. Bài thơ 32 năm tuổi nhưng vẫn mới, vì chừng nào còn nghịch lý, chừng đó ta còn cần những lời đồng dao như thế để không "sống mà như qua đời".



Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào?

Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin. Vì văn bản cung cấp tri thức khách quan, xác thực về Vạn Lý Trường Thành: lịch sử xây dựng, đặc điểm, số liệu, hiện trạng... với mục đích giúp người đọc hiểu rõ hơn về công trình này.


Câu 2. Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là gì?

Đối tượng thông tin chính là Vạn Lý Trường Thành - “bức tường” bí ẩn nhất nhân loại. Cụ thể, văn bản đề cập đến 10 sự thật ít người biết: nguồn gốc, quá trình xây dựng, hiện trạng, đặc điểm kiến trúc, vật liệu, số liệu du khách...


Câu 3. Những dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp? Chỉ ra một ví dụ để chứng minh.

Dữ liệu trong văn bản là dữ liệu thứ cấp. Vì tác giả tổng hợp từ nhiều nguồn có sẵn chứ không trực tiếp nghiên cứu, khai quật.

Ví dụ:

“Theo Travel China Guide, Vạn Lý Trường Thành đang 'biến mất dần theo năm tháng'”

“Thống kê của UNESCO cho thấy gần một phần ba công trình này đã biến mất”

“Trên thực tế, theo Daily mail, tổng chiều dài... là 21.196,18 km”


Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của việc sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản.

Phương tiện phi ngôn ngữ: Bức ảnh chụp Vạn Lý Trường Thành ở mục 3.

Tác dụng:

1. Minh họa trực quan: Giúp người đọc hình dung rõ hình dáng, quy mô, sự hùng vĩ của Vạn Lý Trường Thành uốn lượn qua núi đồi.

2. Tăng tính thuyết phục: Hình ảnh thực tế chứng minh cho những thông tin về “kỳ quan vĩ đại”, “kiến trúc dài nhất”.

3. Gây ấn tượng, thu hút: Ảnh đẹp làm văn bản bớt khô khan, kích thích hứng thú tìm hiểu của người đọc.


Câu 5. Văn bản gợi cho em suy nghĩ gì về đối tượng thông tin?

Văn bản cho em 3 suy nghĩ về Vạn Lý Trường Thành:

Khâm phục trí tuệ và sức lực con người: Xây 21.196,18 km bằng sức người, qua hơn 22 thế kỷ, bằng cả vật liệu thô sơ như đất đá, gạo nếp. Đây là kỳ tích lao động phi thường.

Xót xa về cái giá phải trả: Công trình vĩ đại được xây bằng máu và mồ hôi của hàng triệu nhân công, tù nhân, binh lính. Nó vừa là niềm tự hào, vừa là chứng tích đau thương.

Trách nhiệm bảo tồn: Khi gần 1/3 công trình đã “biến mất” do tự nhiên và con người, thế hệ hôm nay cần ý thức giữ gìn di sản thế giới này trước khi quá muộn.




Câu 1. (2.0đ) Đoạn văn 200 chữ phân tích nhân vật lão Goriot


Trong những trang cuối Lão Goriot, Balzac đã dựng lên chân dung một người cha vĩ đại mà cũng đầy bi kịch. Lão Goriot là hiện thân của tình phụ tử mù quáng trong xã hội tư sản. Cả đời ông chỉ biết “rút ruột” kiếm tiền cho hai con gái là Anastasie và Delphine bước chân vào giới quý tộc. Nhưng khi tiền hết, tình cũng hết. Giây phút hấp hối, ông nếm trải đủ cung bậc: phẫn nộ khi nhận ra “chúng chưa bao giờ yêu ta”, nguyền rủa “ta ghê tởm chúng”, rồi lại van xin “yêu cầu hiến binh” để đưa con về. Đỉnh cao bi kịch là câu nói “Cắt bỏ đầu ta đi, chỉ để lại cho ta mỗi trái tim thôi”: lý trí đã thấy rõ sự thật phũ phàng, nhưng trái tim vẫn không thể ngừng yêu con. Ông chết trong cô độc, nghèo khổ, bên cạnh chỉ có người dưng. Qua nhân vật này, Balzac vừa bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc, vừa cảnh tỉnh về một thứ tình thương sai cách, đồng thời vạch trần bộ mặt vô nhân đạo của đồng tiền trong xã hội Paris thế kỷ XIX.


Câu 2. (4.0đ) Dàn ý 600 chữ: Suy nghĩ về sự xa cách giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện đại


Mở bài: Từ bi kịch của lão Goriot, dẫn đến vấn đề xa cách cha mẹ - con cái hôm nay.


Thân bài:

Thực trạng: Cha mẹ bận rộn, con cái đắm chìm vào công nghệ. Bữa cơm gia đình vắng tiếng nói. Nhiều người già cô đơn trong viện dưỡng lão dù con cái đủ đầy. “Khát nhưng không được uống” của Goriot vẫn còn nguyên tính thời sự.

Nguyên nhân:

- Khách quan: Áp lực công việc, khoảng cách địa lý, sự chi phối của mạng xã hội.

- Chủ quan: Cách yêu thương sai. Cha mẹ chỉ biết chu cấp vật chất như Goriot. Con cái vô tâm, coi tình thân là hiển nhiên.

Hậu quả: Cha mẹ cô đơn, trầm cảm. Con cái mất điểm tựa, dễ lạc lối. Rạn nứt gia đình làm băng hoại xã hội.

Giải pháp:

- Với cha mẹ: Học cách “yêu” chứ không chỉ “cho”. Dành thời gian chất lượng, làm bạn với con.

- Với con cái: Thấu hiểu “Cây có cội, nước có nguồn”. Hiếu thảo không đợi lúc giàu, quan tâm không đợi lúc rảnh. Chủ động chia sẻ, lắng nghe.


Kết bài: Cái chết của Goriot cách đây 200 năm vẫn là hồi chuông cảnh tỉnh. Đừng để đến khi “hấp hối” mới nhận ra mình đã bỏ lỡ điều quý giá nhất: gia đình



Câu 1. Ngôi kể được sử dụng trong văn bản

Văn bản sử dụng ngôi kể thứ 3. Người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật là “ông già”, “Eugène”, kể lại lời nói, hành động, diễn biến tâm lý của lão Goriot một cách khách quan: “Ông già vừa nói vừa nhìn Eugène…”, “Eugène vừa nói vừa nâng ông già…”.


Câu 2. Đề tài của văn bản

Đề tài: Bi kịch của người cha trong xã hội tư sản. Đoạn trích khắc họa những giây phút cuối đời của lão Goriot, qua đó tố cáo sự băng hoại đạo đức gia đình khi đồng tiền chi phối, đồng thời ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng, vĩ đại nhưng mù quáng.


Câu 3. Lời nói của lão Goriot với Rastignac gợi cảm nhận gì?

Lời nói: “Con phải yêu quý cha mẹ con... Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống...” gợi 3 suy nghĩ lớn:

Nỗi đau của người cha bị bỏ rơi: Hình ảnh “khát nhưng không được uống” là ẩn dụ cho cơn khát tình thân. Ông khát tình thương con suốt 10 năm mà chưa bao giờ được đáp lại.

Lời cảnh tỉnh: Ông dùng cái chết của mình để dạy Eugène. “Đừng cho nó lấy chồng” là lời đau đớn khi nhận ra hôn nhân và đồng tiền đã cướp mất con gái ông.

Tình cha bất diệt: Dù bị con đối xử tệ bạc, ông vẫn “căm thù” những kẻ làm hại con, vẫn lo cho số phận Anastasie. Tình yêu đã thành bản năng, vượt cả lý trí.


Câu 4. Vì sao lão Goriot lại khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng?

Vì tình cha của Goriot đã trở thành bản năng, vượt lên mọi lý trí và lòng tự trọng.

Giận thì giận mà thương vẫn thương: Lời nguyền rủa chỉ là phút bộc phát của đau đớn, tuyệt vọng. Ngay sau đó ông sững sờ hỏi “Ai đã nói thế?”, tự phủ nhận lời mình.

Ảo tưởng cứu rỗi: Ông tin “Nếu được nhìn thấy chúng thì ta đã khỏi bệnh rồi”. Với ông, con cái là liều thuốc duy nhất.

Nỗi sợ cô độc: Chết không gặp được con là cái chết “như một con chó”. Vì thế dù bị phản bội, ông vẫn khao khát được gặp con lần cuối.


Câu 5. Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot

Tình cảnh lão Goriot là tận cùng bi kịch:

Cô độc: Chết trong căn phòng tồi tàn, bên cạnh chỉ có 2 người dưng là Eugène và Bianchon. Hai con gái ruột không một ai đến.

Nghèo khổ: Từng là chủ hãng bún giàu có, cuối đời “không có gì cho con ngoài lời chúc phúc của một kẻ sắp chết”.

Đau khổ cả thể xác lẫn tinh thần: Bệnh tật hành hạ, nhưng nỗi đau bị con bỏ rơi còn lớn hơn: “Lòng yêu con đang đốt cháy ta”.

=> Cái chết của Goriot là bản án tố cáo xã hội tư sản Paris, nơi đồng tiền đã giết chết tình cha con.







Câu 1. (2.0 điểm) Đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích hình tượng người phụ nữ trong bài thơ


Trong "Những người đàn bà gánh nước sông", Nguyễn Quang Thiều đã khắc họa hình tượng người phụ nữ nông thôn với vẻ đẹp tần tảo và bi kịch lặp lại đến ám ảnh. Họ hiện lên qua chi tiết “ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái” - so sánh chân thực gợi nỗi xót xa về sự lam lũ đã hằn in lên cơ thể. Cái gánh nặng mưu sinh thể hiện qua hình ảnh “Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi / Bàn tay kia bám vào mây trắng”: một bên là hiện thực chênh vênh, một bên là hy vọng mong manh. Bi kịch lớn nhất là sự lặp lại: “con gái lại đặt đòn gánh lên vai”, “lũ con gái lại tắm bên bến nước”. Vòng đời ấy đã kéo dài “năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm”, từ mẹ sang con, không lối thoát. Đối lập với người đàn ông “vác cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà” rồi “giận dữ, buồn bã và bỏ đi”, người phụ nữ cam chịu, bền bỉ bám lấy bến sông. Hình tượng ấy vừa đẹp ở đức hy sinh, vừa gợi nỗi đau về thân phận người phụ nữ bị trói buộc bởi đói nghèo và định kiến. (199 chữ)


Câu 2. (4.0 điểm) Bài văn nghị luận khoảng 600 chữ về hội chứng “burnout” của giới trẻ hiện nay


“Burnout” - hội chứng kiệt sức - đang trở thành căn bệnh tinh thần đáng báo động ở người trẻ. Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa đây là trạng thái cạn kiệt năng lượng do căng thẳng kéo dài trong công việc, biểu hiện bằng sự mệt mỏi, hoài nghi và giảm hiệu suất.


Thực trạng burnout ở giới trẻ Việt Nam rất rõ rệt. Nhiều sinh viên “chạy deadline” thâu đêm, nhân viên văn phòng làm 10-12 tiếng/ngày, freelancer ôm nhiều dự án cùng lúc. Họ luôn online, luôn kết nối, sợ bị bỏ lại trong cuộc đua thành công. Biểu hiện là mất ngủ, lo âu, cáu gắt, mất động lực, thậm chí trầm cảm. Không ít bạn trẻ mới 25 tuổi đã cảm thấy “cháy hết pin”, muốn bỏ việc, bỏ học.


Nguyên nhân đến từ 3 phía. Thứ nhất, áp lực xã hội: văn hóa “hustle culture” tôn vinh làm việc điên cuồng, mạng xã hội tràn ngập hình ảnh thành công của “người khác” khiến người trẻ tự ti. Thứ hai, áp lực từ gia đình: kỳ vọng “con nhà người ta”, phải có việc lương cao, nhà đẹp trước 30 tuổi. Thứ ba, chính bản thân: nhiều bạn ôm đồm, không biết nói “không”, đặt mục tiêu phi thực tế và đồng nhất giá trị bản thân với thành tích.


Hậu quả của burnout rất nặng nề. Về sức khỏe, nó gây suy nhược, rối loạn tâm lý, đột quỵ sớm. Về công việc, người kiệt sức làm việc kém hiệu quả, dễ sai sót. Về xã hội, một thế hệ “cháy hết mình” rồi “cháy rụi” sẽ thiếu sức sáng tạo, thiếu lửa để cống hiến lâu dài.


Vậy người trẻ phải làm gì? Trước hết, cần thay đổi tư duy: nghỉ ngơi không phải lười biếng, mà là để đi đường dài. Hãy học cách đặt ranh giới: tắt thông báo sau giờ làm, dám từ chối việc quá sức. Thứ hai, chăm sóc sức khỏe tinh thần: ngủ đủ, tập thể dục, kết nối với bạn bè, tìm chuyên gia tâm lý khi cần. Thứ ba, doanh nghiệp và nhà trường phải xây dựng môi trường lành mạnh, giảm KPI vô lý, tôn trọng đời sống cá nhân.


Giống như những người đàn bà gánh nước sông cứ lặp lại gánh nặng đời này qua đời khác, nếu người trẻ cứ lao vào guồng quay kiệt sức mà không dừng lại, chúng ta cũng sẽ mắc kẹt trong vòng lặp “cháy - kiệt - bỏ cuộc”. Burnout không phải huân chương cho sự chăm chỉ. Biết dừng lại đúng lúc, biết yêu thương bản thân mới là bản lĩnh để đi xa. Tuổi trẻ không cần cháy rực trong 1 năm rồi lụi tàn, mà cần bền bỉ tỏa sáng cả hành trình.



Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Thể thơ: Thơ tự do.

Dấu hiệu: Số chữ trong các dòng không đều nhau, không có vần luật cố định, nhịp điệu linh hoạt theo mạch cảm xúc của tác giả.


Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.

Ngoài ra còn kết hợp: Tự sự - kể về vòng đời lặp lại của những đứa trẻ bên bến sông, và Miêu tả - tái hiện hình ảnh người đàn bà gánh nước, lũ trẻ, người con trai vác cần câu.


Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” trong bài có tác dụng gì?

Tác dụng của biện pháp điệp cấu trúc:

Nhấn mạnh sự tuần hoàn, lặp lại của kiếp người: Hình ảnh người đàn bà gánh nước không phải khoảnh khắc nhất thời mà đã diễn ra suốt “năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm”, thành một phần không đổi của làng quê.

Tạo ấn tượng về thời gian đằng đẵng: Các mốc thời gian tăng tiến gợi nỗi ám ảnh về sự lam lũ triền miên, từ đời mẹ sang đời con.

Thể hiện nỗi xót xa, day dứt của nhân vật trữ tình: Người quan sát đã chứng kiến “nửa đời” mà vòng luẩn quẩn ấy không thay đổi, gợi sự trăn trở về thân phận con người.

Tạo kết cấu đầu cuối tương ứng: Khổ đầu và khổ cuối lặp lại tạo vòng tròn khép kín, nhấn mạnh sự bế tắc, lặp lại của số phận.


Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

Đề tài: Hình ảnh người phụ nữ nông thôn Việt Nam trong lao động nhọc nhằn và vòng đời lặp lại bên bến sông quê.

Chủ đề: Bài thơ thể hiện nỗi xót xa, thương cảm trước số phận lam lũ, tảo tần của người phụ nữ. Qua đó, tác giả đặt ra những suy ngẫm về sự lặp lại của kiếp người, về khát vọng đổi thay và nỗi buồn trước thực tại quẩn quanh.

Câu 5


Bài thơ "Những người đàn bà gánh nước sông" của Nguyễn Quang Thiều khiến tôi day dứt khôn nguôi về số phận người phụ nữ và vòng đời lặp lại đến xót xa. Hình ảnh “con gái lại đặt đòn gánh lên vai” sau “năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm” cho thấy gánh nặng mưu sinh đã truyền từ đời mẹ sang đời con như một định mệnh. Trong khi “con trai lại vác cần câu và cơn mơ biển” để tìm chân trời mới thì con gái vẫn quẩn quanh bên bến sông với “đôi thùng chao nghiêng”. Chi tiết “cá thiêng lại quay mặt khóc / Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi” là ẩn dụ đau đớn cho những ước mơ non nớt bị thực tại phũ phàng làm tổn thương. Bài thơ buộc thế hệ trẻ chúng ta phải tự hỏi: Liệu mình có đang xem sự hy sinh của mẹ là điều hiển nhiên? Vì vậy, lòng biết ơn thôi chưa đủ, phải hành động để phá vỡ vòng luẩn quẩn ấy. Chỉ khi ta học tập, lao động để “đòn gánh” trên vai mẹ nhẹ bớt thì những “cơn mơ biển” mới không còn là ảo vọng. (198 chữ