Phạm Thùy Chi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Thùy Chi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Tố Hữu là một nhà thơ lớn, xuất sắc trong nền văn thơ hiện đại Việt Nam. Với bảy tập thơ đồ sộ, thơ ông được coi là biên niên sử bằng thơ. Đối với Tố Hữu, ông quan niệm con đường thơ ca cũng giống với con đường cách mạng. Vậy nên thơ ông thường song hành cùng con đường cách mạng qua đó đã phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc ta. Qua bài thơ Nhớ đồng, người cộng sản trẻ tuổi bày tỏ nỗi niềm thương nhớ đồng quê, thương nhớ cảnh vật con người, đồng đội đồng bào của mình trong những tháng ngày bị giam giữa ở nhà lao Thừa Thiên Huế.

Tháng 7 năm 1939 trong khi hoạt động cách mạng, Tố Hữu đã bị thực dân Pháp bắt và nhốt giam tại nhà tù ở Thừa Thiên Huế. Tuy bị giam cầm lẻ loi trong tù ngục tối tăm nhưng chính hoàn cảnh sống ấy đã gợi cho ông nguồn cảm hứng dạt dào để làm thơ. Bài thơ Nhớ đồng được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh ấy và được rút từ tập thơ “Từ ấy” trong phần xiềng xích của tác phẩm. Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của tập thơ Từ ấy.

“Cô đơn thay là cảnh thân tù

Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực..” 

Đó chính là cái cảm giác cô đơn, lẻ loi, đơn độc khi Tố Hữu bị bắt giảm, sống cách biệt với thế giớ bên ngoài. Vì vậy chỉ là một âm thanh hay một tiếng động nhỏ nào từ bên ngoài dội vào thôi cũng đủ để gợi cho nhà thơ một nỗi nhớ tha thiết, khôn nguôi. Chẳng phải là tiếng tu hú kêu trên những cánh đồng bao la khắc khoải gọi hè về như trong tác phẩm “Khi con tu hú”, mà đây chỉ là tiếng hò quen thuộc của nơi đồng quê:

“Gì sâu bằng những trưa thương nhớ

Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!”

Bài thơ được gợi cảm hứng từ tiếng hò thân quen đã trở thành điệp khúc lặp đi lặp lại về nỗi thương nhớ, nỗi cô đơn, hiu quạnh, lạnh lẽo của người tù.

Tiếng hò đã gợi ra biết bao nỗi nhớ, kí ức về hình ảnh quen thuộc nơi đồng quê hiện về trong tâm trí tác giả:“Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi

Đâu ruồng che mát thở yên vui

Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn

Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?”

Âm thanh tiếng hò- một âm thanh gần gũi, quen thuộc nơi quê nhà của tác giả. Trong sự xa cách ấy, nỗi nhớ của nhà thơ dường như càng mãnh liệt và da diết hơn biết bao. Giờ đây, hình ảnh, mùi vị, màu săc, âm thanh của quê hương càng trở nên thật thân thương, gần gũi đến lạ thường.

Không chỉ nhớ về đồng quê, Tố Hữu còn nhớ tới hình ảnh con người lao động – những người dân nơi thôn quê cần cù, giản dị mà chất phác, họ đã quen với việc “dãi gió dầm mưa”,”hiền như đất”, “rất thật thà”:

“Đâu những lưng cong xuống luống cày

Mà bùn hy vọng nức hương ngây

Và đâu hết những bàn tay ấy

Vãi giống tung trời những sớm mai?”

Đó là những người nông dân, chăm chỉ, chịu khó quanh năm lao động cật lực, họ bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Người nông dân cùng luống cày gian nan, vất vả, theo thời gian, theo năm tháng lưng của họ càn còng dần. Thế nhưng dù cho có phải ở trong bùn đen lấm lem bụi bẩn, ở họ vẫn toát lên một vẻ đẹp nhân hậu, sáng ngời của phẩm chất trong sáng. Chính những người lao động giản gị, mộc mạc, chân chất thôn quê ấy lại là những người sẽ gieo thêm những tia hi vọng vào một tương lai sáng ngời.

Nhà thơ tiếp tục bày tỏ nỗi nhớ thương da diết của mình qua các chi tiết, hình ảnh: giọng hò, sương, lúa, tiếng xe lùa nước,…. Tất cả đều là mang một sự thân quen của nơi quê hương xa xôi, cách trở. Và nhà thơ nhớ da diết tới những âm thanh, hình ảnh ấy. Từ đó, theo dòng hồi tửng, Tố Hữu lại nghĩ bản thân về cảnh tù đày, đến đây tác giả như có chút chạnh lòng chợt len lỏi vào trong tâm khảm của người chiến sĩ cách mạng:

“Đâu dáng hình quen, đâu cả rồi

Sao mà cách biệt, quá xa xôi

Chao ôi thương nhớ, chao thương nhớ

Ôi mẹ già xa đơn chiếc ơi!”

Tất cả những điều là quen thuộc và thân thương nhất, nhưng vào khoảnh khắc này, nhà thơ lại chẳng thấy gì “đâu cả rồi“. Câu hỏi ấy vang lên nhưng chẳn có một lời đáp, điều đó như là một nhát dao đâm sâu vào trong lòng người tù, khiến cho người thi sĩ trở nên đau đớn, xót xa, tủi nhục hơn bao giờ hết. Giờ đây, khi ở trong nhà lao tăm tối này, mọi thứ trở nên cách biệt và xa xôi biết nhường nào. Và trong nỗi nhớ thương da diết ấy, hình ảnh người mẹ già yêu dấu đã hiện lên trong tâm trí tác giả. Mẹ- chính là người mà tác giả nhớ nhất, thương nhất trong nỗi nhớ của mình.

Và sau những thoáng tủi hổ, buồn thương ấy, người chiến sĩ lại thiết tha với tình yêu cuộc sống, anh ấy lại dũng cảm kiên trì, đấu tranh với những phút giây yếu mềm để vượt qua nó. Và thế là khát khao được tự do, được giả thoát lại sôi sục trong trái tim cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng:

“Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi

Nhẹ nhàng như con chim cà lơi

Say hương đồng vui ca hát

Trên chín tầng cao bát ngát trời”

Hình ảnh chú chim sơn ca như là một biểu tượng đại diện cho khát khao được tự do sải rộng cánh bay trên bầu trời trong xanh và rộng lớn kia. Đây có lẽ là tâm trạng vui tươi nhất của người chiến sĩ khi bị giam cầm trong tù.

Nỗi nhớ thương của tác giả được đánh thức bởi “tiếng hò đưa hố não nùng“. Tiếng hò ấy đã gợi dậy về một thế giới khác bên ngoài nhà giam cùng những cảnh sắc và những hình dáng quen thuộc. Để rồi nhớ về quá khứ, những ngày còn được tự cống hiến bản thân cho cách mạng, và cuối cùng khi trở về với thực tại đau thương, một lần nữa khao khát được tự do, được dâng hiến mình cho đảng lại sôi sục trong lòng người chiến sĩ. 

Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.

Câu 2:
Văn bản trên bàn về vấn đề ý nghĩa và giá trị của lao động đối với sự tiến bộ của xã hội, sự tồn tại của muôn loài và việc mang lại hạnh phúc cho con người.

Câu 3:

  • Bằng chứng được tác giả sử dụng: Hình ảnh chú chim yến (khi lớn lên phải tự mình đi kiếm mồi) và loài hổ, sư tử (tự săn mồi để sinh tồn).
  • Nhận xét: Bằng chứng được lấy từ thế giới tự nhiên, rất gần gũi, chân thực và có sức thuyết phục cao. Qua đó, tác giả khẳng định việc tự lao động để duy trì sự sống là nguyên lí tất yếu, khách quan của mọi sinh vật.
  • Câu 4:
    Câu nói trên mang đến cho em suy nghĩ sâu sắc về thái độ đối với công việc. Lao động không chỉ là phương tiện kiếm sống mà khi ta tìm thấy niềm đam mê và niềm vui trong đó, công việc sẽ không còn là gánh nặng. Biết tận hưởng lao động chính là chìa khóa mang lại sự tự chủ, giúp mỗi người cảm thấy cuộc sống ý nghĩa và hạnh phúc trọn vẹn hơn.
  • Câu 5:
    Một biểu hiện cho thấy sự nhận thức chưa đúng đắn về ý nghĩa của lao động hiện nay là: Hiện tượng "ỷ lại, dựa dẫm vào người khác". Trong xã hội vẫn còn một bộ phận thanh niên lười biếng, không chịu học tập, làm việc, chỉ muốn hưởng thụ thành quả lao động từ sự chu cấp của gia đình, hoặc có những người làm việc đối phó, thiếu trách nhiệm, chỉ mong tìm việc nhẹ nhàng mà không muốn cống hiến.

Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.

Câu 2:
Văn bản trên bàn về vấn đề ý nghĩa và giá trị của lao động đối với sự tiến bộ của xã hội, sự tồn tại của muôn loài và việc mang lại hạnh phúc cho con người.

Câu 3:

  • Bằng chứng được tác giả sử dụng: Hình ảnh chú chim yến (khi lớn lên phải tự mình đi kiếm mồi) và loài hổ, sư tử (tự săn mồi để sinh tồn).
  • Nhận xét: Bằng chứng được lấy từ thế giới tự nhiên, rất gần gũi, chân thực và có sức thuyết phục cao. Qua đó, tác giả khẳng định việc tự lao động để duy trì sự sống là nguyên lí tất yếu, khách quan của mọi sinh vật.
  • Câu 4:
    Câu nói trên mang đến cho em suy nghĩ sâu sắc về thái độ đối với công việc. Lao động không chỉ là phương tiện kiếm sống mà khi ta tìm thấy niềm đam mê và niềm vui trong đó, công việc sẽ không còn là gánh nặng. Biết tận hưởng lao động chính là chìa khóa mang lại sự tự chủ, giúp mỗi người cảm thấy cuộc sống ý nghĩa và hạnh phúc trọn vẹn hơn.
  • Câu 5:
    Một biểu hiện cho thấy sự nhận thức chưa đúng đắn về ý nghĩa của lao động hiện nay là: Hiện tượng "ỷ lại, dựa dẫm vào người khác". Trong xã hội vẫn còn một bộ phận thanh niên lười biếng, không chịu học tập, làm việc, chỉ muốn hưởng thụ thành quả lao động từ sự chu cấp của gia đình, hoặc có những người làm việc đối phó, thiếu trách nhiệm, chỉ mong tìm việc nhẹ nhàng mà không muốn cống hiến.

Caau1. Trần Thiết Chung trong "Vở bi kịch kim tiền" là nhân vật tiêu biểu cho người trí thức nghèo, có tài năng, đạo đức sáng ngời, kiên quyết giữ gìn danh tiết và ghét cay ghét đắng tiền bạc, phú quý; ban đầu, ông từ chối cả những món lợi lớn để sống thanh cao, nhưng cuối cùng lại bị chính đồng tiền tha hóa, đánh mất mình, rơi vào bi kịch tột cùng, cho thấy sức mạnh hủy diệt của đồng tiền đối với nhân cách con người, từ một người văn hay chữ tốt, ông trở thành kẻ tha hóa, mất hết nhân phẩm, đẩy gia đình vào cảnh tan nát, thể hiện sự phê phán sâu sắc của tác giả đối với xã hội thực dân phong kiến.

Đề tài: Vấn đề đồng tiền trong cuộc sống.

 do quan điểm sống "coi thường tiền bạc, vật chất", sống thanh bạch mà không biết dùng tài năng để kiếm tiền, dẫn đến cuộc sống nghèo khó

Hình ảnh so sánh của Cự Lợi trong vở kịch Kim tiền nhấn mạnh sức mạnh vạn năng của tiền bạc trong xã hội đương thời: dù tiền bị coi là "bẩn" (như phân, rác) nhưng lại là thứ thiết yếu nhất để duy trì cuộc sống và giải quyết mọi việc

 kết thúc cuộc đối thoại giữa Trần Thiết Chung và Cự Lợi dẫn đến sự bùng nổ của mâu thuẫn xã hội: công nhân mỏ than phẫn nộ trước sự đối xử tệ bạc đã nổi dậy, kết thúc bằng việc bắn chết Trần Thiết Chung. 

Thông điệp:Sự dằn vặt giữa khát vọng hoài bão lớn và tình cảm quyến luyến, bổn phận đời thường;,nó có ý nghĩa vì giúp ta hiểu rằng: người đi không vô tình mà mang trái tim nặng trĩu, sự lựa chọn khó khăn này là tất yếu của cuộc đời, và chúng ta cần thấu cảm nỗi đau chia ly, trân trọng những tình cảm gắn bó trong khi vẫn theo đuổi lý tưởng, cho thấy giá trị của hoài bão lớn lao 

Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ: thay đổi trật tự từ trong câu ( đảo ngữ ).
- Tác dụng: để nhấn mạnh sự đối lập giữa vẻ đẹp trong trẻo của đôi mắt và nỗi buồn của cảnh hoàng hôn. Tạo ra sự mới lạ, độc đáo bộc lộ tâm trạng cô đơn, bi kịch của nhân vật trữ tình trước cuộc đời.


Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ: thay đổi trật tự từ trong câu ( đảo ngữ ).
- Tác dụng: để nhấn mạnh sự đối lập giữa vẻ đẹp trong trẻo của đôi mắt và nỗi buồn của cảnh hoàng hôn. Tạo ra sự mới lạ, độc đáo bộc lộ tâm trạng cô đơn, bi kịch của nhân vật trữ tình trước cuộc đời.


Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ: thay đổi trật tự từ trong câu ( đảo ngữ ).
- Tác dụng: để nhấn mạnh sự đối lập giữa vẻ đẹp trong trẻo của đôi mắt và nỗi buồn của cảnh hoàng hôn. Tạo ra sự mới lạ, độc đáo bộc lộ tâm trạng cô đơn, bi kịch của nhân vật trữ tình trước cuộc đời.


Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ: thay đổi trật tự từ trong câu ( đảo ngữ ).
- Tác dụng: để nhấn mạnh sự đối lập giữa vẻ đẹp trong trẻo của đôi mắt và nỗi buồn của cảnh hoàng hôn. Tạo ra sự mới lạ, độc đáo bộc lộ tâm trạng cô đơn, bi kịch của nhân vật trữ tình trước cuộc đời.