Phạm Thị Ngọc Hoa
Giới thiệu về bản thân
Trong đoạn trích "Một đám cưới", Nam Cao đã khắc họa nhân vật Dần - một em bé nhà nghèo phải đi ở từ khi chưa đầy 12 tuổi - với tất cả sự xót xa và chân thực. Ngay từ chi tiết “đầu nó còn để hai cái trái đào”, tác giả đã cho thấy Dần vẫn chỉ là một đứa trẻ, tuổi đáng lẽ được cắp sách đến trường và vô tư vui đùa. Thế nhưng, vì cái nghèo đeo đẳng, mẹ Dần đành đứt ruột đẩy con đi ở cho nhà bà chánh Liễu. Ở đó, em phải làm quần quật từ sáng đến tối: quét nhà, thổi cơm, dọn vặt, trông nom. Bữa ăn thì “cơm chia sáng, mỗi người một lùm”, tối chỉ có củ khoai, củ ráy. Thân xác em gầy rộc như “một cái que”, vậy mà vẫn bị chửi mắng, đánh đập nếu làm không vừa ý. Điều đáng thương nhất là tâm lý của Dần. Em không sợ khổ, chỉ sợ phải xa mẹ, xa các em. Khi được về nhà chơi, Dần khóc hu, van xin “chỉ đừng bắt nó ở cho nhà bà chánh nữa”. Qua đó, Nam Cao phơi bày bi kịch của trẻ em nghèo trước Cách mạng: tuổi thơ bị tước đoạt, thân phận bị rẻ rúng như một món hàng để đổi lấy vài bát cơm, vài đồng công. Bằng ngòi bút hiện thực giàu tính nhân đạo, nhà văn không chỉ dựng lên số phận một đứa trẻ mà còn tố cáo xã hội bất công, nơi cái nghèo đẩy con người vào cảnh cùng cực. Nhân vật Dần vì thế trở thành tiếng kêu thầm lặng nhưng ám ảnh, lay động lòng trắc ẩn của người đọc.
câu 1: thể thơ của văn bản là thể thơ 8 chữ
câu 2: bài thơ chỉ rằng chính những lựa chọn sai lầm và sự cố chấp trong tình yêu là nguyên nhân của đau khổ.
câu 3:cấu trúc lặp:“ người ta khổ vì.." được lặp lại ở đầu khổ 1,2,3
tác dụng: nhấn mạnh Nguyên nhân trực tiếp gây ra đau khổ là do chính con người gây ra.
tạo nhịp điệu dồn dập thú khắc sâu số phận.
câu 4: bài thơ phân tích các nguyên nhân khiến con người đau khổ trong tình yêu yêu sai Người yêu cách cố chấp không chịu lùi bước và ảo tưởng về tình cảm.
câu 5: Xuân diệu nhìn tình yêu với con mắt trực tiếp chân thực ông đã tô vẽ màu hồng chỉ ra mặt trời nó đẹp nhưng dễ làm con người ta mù quáng đau khổ nếu không tỉnh táo vì tình yêu.
Câu 1: Đoạn trích “Chèo đi rán thứ chín… Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!” trong truyện thơ _Vượt biển_ là một lát cắt điển hình thể hiện sự dữ dội của thiên nhiên và nỗi sợ hãi, khát vọng sống mãnh liệt của con người. Tác giả sử dụng hàng loạt động từ mạnh, tính từ gợi tả: “nước dựng đứng chấm trời”, “nước sôi gầm réo”, “thét gào”, “kéo xuống Long Vương” để khắc họa khung cảnh biển cả hung dữ, như một con quái vật khổng lồ sẵn sàng nuốt chửng con người. Giữa không gian đáng sợ ấy, lời kêu cứu “Biển ơi, đừng giết tôi, / Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền” vang lên tha thiết, vừa như lời van xin, vừa như tiếng thét tuyệt vọng của linh hồn oan khuất. Điệp từ “đừng” được lặp lại tạo nhịp gấp gáp, dồn nén cảm xúc lo sợ đến tột cùng. Nghệ thuật nhân hóa “biển ơi”, “nước hỡi” khiến thiên nhiên như có linh hồn, đối thoại trực diện với con người, càng làm nổi bật sự nhỏ bé, cô độc của kiếp người trước số phận. Qua đó, đoạn thơ không chỉ miêu tả ngoại cảnh hiểm nguy mà còn khắc họa sâu sắc bi kịch nội tâm: nỗi đau bị đối xử bất công, khát khao được sống, được giải oan. Tiếng kêu “Đừng cho tôi bỏ thân chốn này” chính là tiếng nói chung của những con người nhỏ bé luôn vùng vẫy để giành lấy quyền sống và công bằng.
câu 2: Tình thân – hai tiếng giản dị nhưng chứa đựng sức mạnh vô hình nâng đỡ con người qua mọi giông bão của cuộc đời. Đó là sợi dây máu mủ thiêng liêng gắn kết ông bà, cha mẹ, anh chị em, là nơi ta tìm về khi mệt mỏi, là bến đỗ bình yên giữa cuộc đời đầy biến động. Trước hết, tình thân là nền tảng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người. Từ khi lọt lòng, ta được bao bọc trong tình yêu thương của cha mẹ. Một lời ru, một bữa cơm nóng, một cái ôm khi vấp ngã đều là những bài học đầu đời về sự che chở và sẻ chia. Chính trong mái ấm gia đình, ta học cách yêu thương, cảm thông và có trách nhiệm với người khác. Không có tình thân, con người dễ trở nên lạnh lùng, ích kỷ và lạc lõng. Như trong truyện thơ _Vượt biển_, người em trai chết oan vì bị anh trai ghen tuông, chính sự rạn nứt tình anh em đã đẩy một con người vào bi kịch. Ngược lại, nếu có tình thân bền chặt, con người sẽ có điểm tựa tinh thần vững vàng để vượt qua thử thách. Hành trình vượt 12 rán nước của người em trong cõi âm cũng là hành trình của một linh hồn khao khát được trở về, được an ủi và thấu hiểu. Thứ hai, tình thân là nguồn sức mạnh giúp ta vượt qua khó khăn. Cuộc sống không bao giờ bằng phẳng, sẽ có lúc ta vấp ngã, thất bại, tuyệt vọng. Khi ấy, không gì quý giá hơn một gia đình sẵn sàng dang tay đón ta trở về. Lời động viên của mẹ, sự im lặng chia sẻ của cha, sự đùa giỡn của anh em đôi khi có sức mạnh hơn ngàn lời an ủi từ người ngoài. Chính tình thân giúp ta có thêm dũng khí để đứng dậy, để “chèo qua rán nước” của cuộc đời mình. Trong xã hội hiện đại, khi con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc và công nghệ, tình thân càng trở nên quý giá. Nó nhắc ta nhớ rằng, dù đi xa đến đâu, thành công rực rỡ thế nào, thì nơi ta thuộc về vẫn luôn là mái nhà. Tuy nhiên, giá trị của tình thân chỉ được phát huy khi mỗi người biết vun đắp và trân trọng. Tình thân không tự nhiên bền vững nếu ta vô tâm, ích kỷ, đặt vật chất lên trên tình cảm. Sự lạnh nhạt, ghen ghét, toan tính sẽ làm rạn nứt mối dây thiêng liêng ấy. Vì vậy, mỗi người cần học cách lắng nghe, tha thứ và cho đi yêu thương trong gia đình mỗi ngày. tình thân là tài sản vô giá mà không tiền bạc nào mua được. Nó là gốc rễ, là sức mạnh, là nơi neo đậu tâm hồn. Hãy trân trọng những bữa cơm sum vầy, những cuộc gọi hỏi han, những khoảnh khắc giản dị bên người thân, bởi có thể một ngày nào đó, điều ta hối tiếc nhất chính là đã từng vô tâm với những người yêu thương mình nhất
câu 1 người kể trong văn bản là ngôi kể thứ nhất " tôi".
câu 2 : biển trong văn bản hiện lên với những đặc điểm:
Hung dữ, hiểm trở "nước ác kéo ầm ầm" nơi đây có quỷ dữ chặn đường "nước xoáy dữ ào ào"...
câu 3: chủ đề của văn bản là hành trình vượt qua thử thách đến cõi bình an và nỗi oan khuất có sự bất công của con người.
câu 4: các rán nước là biểu tượng cho những thử thách gian khổ mà con người phải trải qua trong cuộc sống đặc biệt những Linh hồn oan uất ở cõi âm.
câu 5: âm thanh được thể hiện:
âm Thanh dữ dội ồn ào của Thiên nhiên: "nước nôi gầm rèo" thét gào",ầm ầm gợi hung dữ đáng sợ.
âm thanh cầu xin " biển ơi,đừng giết tôi " nước hỡi.
câu 1 người kể trong văn bản là ngôi kể thứ nhất " tôi".
câu 2 : biển trong văn bản hiện lên với những đặc điểm:
Hung dữ, hiểm trở "nước ác kéo ầm ầm" nơi đây có quỷ dữ chặn đường "nước xoáy dữ ào ào"...
câu 3: chủ đề của văn bản là hành trình vượt qua thử thách đến cõi bình an và nỗi oan khuất có sự bất công của con người.
câu 4: các rán nước là biểu tượng cho những thử thách gian khổ mà con người phải trải qua trong cuộc sống đặc biệt những Linh hồn oan uất ở cõi âm.
câu 5: âm thanh được thể hiện:
âm Thanh dữ dội ồn ào của Thiên nhiên: "nước nôi gầm rèo" thét gào",ầm ầm gợi hung dữ đáng sợ.
âm thanh cầu xin " biển ơi,đừng giết tôi " nước hỡi.
câu 1 người kể trong văn bản là ngôi kể thứ nhất " tôi".
câu 2 : biển trong văn bản hiện lên với những đặc điểm:
Hung dữ, hiểm trở "nước ác kéo ầm ầm" nơi đây có quỷ dữ chặn đường "nước xoáy dữ ào ào"...
câu 3: chủ đề của văn bản là hành trình vượt qua thử thách đến cõi bình an và nỗi oan khuất có sự bất công của con người.
câu 4: các rán nước là biểu tượng cho những thử thách gian khổ mà con người phải trải qua trong cuộc sống đặc biệt những Linh hồn oan uất ở cõi âm.
câu 5: âm thanh được thể hiện:
âm Thanh dữ dội ồn ào của Thiên nhiên: "nước nôi gầm rèo" thét gào",ầm ầm gợi hung dữ đáng sợ.
âm thanh cầu xin " biển ơi,đừng giết tôi " nước hỡi.
câu 1 người kể trong văn bản là ngôi kể thứ nhất " tôi".
câu 2 : biển trong văn bản hiện lên với những đặc điểm:
Hung dữ, hiểm trở "nước ác kéo ầm ầm" nơi đây có quỷ dữ chặn đường "nước xoáy dữ ào ào"...
câu 3: chủ đề của văn bản là hành trình vượt qua thử thách đến cõi bình an và nỗi oan khuất có sự bất công của con người.
câu 4: các rán nước là biểu tượng cho những thử thách gian khổ mà con người phải trải qua trong cuộc sống đặc biệt những Linh hồn oan uất ở cõi âm.
câu 5: âm thanh được thể hiện:
âm Thanh dữ dội ồn ào của Thiên nhiên: "nước nôi gầm rèo" thét gào",ầm ầm gợi hung dữ đáng sợ.
âm thanh cầu xin " biển ơi,đừng giết tôi " nước hỡi.
câu 1:Trong tiểu thuyết Sống mòn, Nam Cao đã xây dựng thành công nhân vật Thứ – bức chân dung chân thực về bi kịch của người trí thức tiểu tư sản nghèo trước Cách mạng. Thứ vốn là một người có lý tưởng, giàu lòng tự trọng và nuôi hoài bão lớn lao về một cuộc sống có ích, có ý nghĩa. Thế nhưng, hiện thực phũ phàng và gánh nặng "cơm áo gạo tiền" đã đẩy y vào cảnh sống mòn mỏi, bế tắc. Bi kịch lớn nhất của Thứ không chỉ là cái nghèo vật chất, mà là sự dằn vặt, đau đớn trong tâm hồn khi nhận ra bản thân đang bị hoàn cảnh ghì sát đất, phải lo toan những việc nhỏ nhen, ích kỷ và dần đánh mất đi lý tưởng cao đẹp. Qua dòng độc thoại nội tâm sâu sắc, Nam Cao không chỉ cảm thông cho số phận bất hạnh của Thứ mà còn gián tiếp phê phán xã hội ngột ngạt đương thời đã bóp nghẹt tài năng và nhân phẩm con người. Nhân vật Thứ chính là lời cảnh tỉnh đầy nhức nhối về nguy cơ tha hóa và khát vọng giữ vững thiên lương của con người trong hoàn cảnh khốn cùng.
câu 1: người kể chuyện ở ngôi thứ ba
câu 2: khi còn ngồi ghế nhà trường, thứ có những ước mơ cao xa và hoài bão lớn lao:
không bao giờ thèm mong sau này làm một phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương về nuôi vợ con
ước vọng sẽ đỗ Thành Trung, Đỗ Tú Tài, vào trường đại học, sang Tây...
câu 3: biện pháp liệt kê ("mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra") và ("Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y").
tác dụng: cho tạo giọng điệu dồn dập, nhấn mạnh mức độ bi thảm bế tắc của số phận.
Diệp từ điệp cấu trúc ("y sẽ...", sẽ khinh y."
tác dụng: nhấn mạnh tương lai mờ mịt tối tăm ám ảnh của nhân vật.
câu4: về cuộc sống đó là cuộc sống bế tắc ngọt ngào nghèo khó tẻ nhạt mọi ước mơ hoài bão đẩy nhanh được vào hoàn cảnh thất nghiệp.
về con người là một tri thức có ý sâu sắc về giá trị cuộc sống có lòng tự trọng khát khao được cống hiến .
câu 5: đoạn trích chứa đựng nhiều triết lý sâu sắc về ý nghĩa của sống sống tức là thay đổi chết ngay trong lúc sống mới là nhục nhã xấu không thì tồn tại sinh học ăn ngủ qua ngày mai còn hành động có sự thay đổi hoàn thiện bản thân một cuộc đời không có ước mơ chấp nhận buông theo hoàn cảnh khác nào đã "chết "hay khi còn sống.
câu 1:
Qua truyện ngắn "Hai lần chết", Thạch Lam đã xây dựng thành công nhân vật Dung – biểu tượng cho số phận bi kịch, tội nghiệp của người phụ nữ trong xã hội cũ. Ngay từ nhỏ, Dung đã phải chịu sự ghẻ lạnh, bất công từ chính cha mẹ đẻ khi luôn phải mặc áo cũ, làm lụng dưới bếp. Cuộc đời cô bước vào ngõ cụt khi bị áp đặt kết hôn với người chồng ngu đần và chịu sự hành hạ, đay nghiến tàn nhẫn của gia đình nhà chồng độc ác. Bi kịch lên đến đỉnh điểm khi Dung trốn về nhà đẻ sau trận tự tử hụt, nhưng cô lại bị chính mẹ ruột xua đuổi, coi như món nợ rũ bỏ. Dung hiện lên với tính cách nhẫn nhục, yếu đuối và đơn độc. Chi tiết cô ngậm ngùi quay bước trở lại nhà chồng và nhận ra mình "mới hẳn là chết đuối" đã khắc họa sâu sắc cái chết trong tâm hồn của một kiếp người. Bằng ngòi bút thấm đẫm tinh thần nhân đạo, Thạch Lam không chỉ lột tả nỗi đau thương của Dung mà còn lay động tâm can người đọc về quyền sống của con người.