Dương Ngọc Nguyên
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Dấu hiệu để xác định thể thơ:
Số chữ trong mỗi dòng thơ không đều.
Nhịp điệu linh hoạt, không bị gò bó theo niêm luật.
Đây là thể thơ tự do.
Câu 2:
Đoạn thơ thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình:
Niềm xúc động, tự hào trước sự hồi sinh của đất nước sau chiến tranh.
Sự trân trọng, biết ơn những hi sinh của nhân dân.
Niềm tin tưởng, lạc quan vào tương lai xây dựng đất nước.
Câu 3:
Biện pháp tu từ tiêu biểu: điệp cấu trúc “Mỗi… đều…”
Ý nghĩa:
Nhấn mạnh: mọi con người trong xã hội (em bé, cô gái) đều mang trong mình dấu ấn chiến tranh.
Làm nổi bật sự khốc liệt của chiến tranh nhưng cũng cho thấy sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam.
Gợi sự liên kết giữa quá khứ đau thương và hiện tại tươi đẹp.
Câu 4:
“Vị ngọt” là niềm hạnh phúc, thành quả của hòa bình, độc lập.
Vị ngọt đó có được từ:
Sự hi sinh, mất mát trong chiến tranh.
Tinh thần đấu tranh kiên cường của dân tộc, đặc biệt từ Cách mạng Tháng Tám.
Câu 5:
Suy nghĩ về lòng yêu nước:
Lòng yêu nước là tình cảm thiêng liêng, gắn bó với quê hương, dân tộc.
Trong chiến tranh: yêu nước là sẵn sàng hi sinh vì độc lập.
Trong hòa bình: yêu nước là lao động, học tập, xây dựng đất nước.
Với thế hệ trẻ: cần thể hiện lòng yêu nước bằng hành động cụ thể, như rèn luyện bản thân, góp phần phát triển xã hội.
Câu 1
Hình tượng đất nước trong đoạn trích hiện lên vừa chân thực vừa giàu cảm xúc. Đó là một đất nước bước ra từ chiến tranh với vô vàn đau thương nhưng đang mạnh mẽ hồi sinh. Hình ảnh “gạch vụn”, “cầu sập”, “bom rơi” gợi quá khứ khốc liệt, trong khi “nhành hoa”, “dựng nhà”, “vào lớp Một” lại tượng trưng cho sự sống mới đang nảy nở. Đất nước không phải khái niệm trừu tượng mà hiện hữu trong từng con người cụ thể: em bé, cô gái, những bàn tay lao động cần cù. Qua đó, tác giả khẳng định sức mạnh của nhân dân – những con người đã hi sinh trong chiến tranh và tiếp tục dựng xây trong hòa bình. Đặc biệt, hình tượng đất nước còn gắn với dòng chảy lịch sử liên tục giữa các thế hệ, từ chiến tranh đến hòa bình. Chính sự tiếp nối ấy tạo nên “vị ngọt” của hôm nay – thành quả của bao gian khổ. Đoạn thơ vì thế không chỉ ca ngợi đất nước mà còn khơi dậy niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với quê hương, Tổ quốc.
Câu 2
Lịch sử luôn là dòng chảy của những sự kiện, những mốc thời gian và biến cố lớn lao. Tuy nhiên, có một ý kiến đáng suy ngẫm: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Nhận định ấy đã chạm đến bản chất sâu xa của cách con người cảm nhận quá khứ.
Trước hết, “bài giảng lịch sử” thường gợi đến những kiến thức mang tính khái quát: ngày tháng, sự kiện, số liệu. Nếu chỉ tiếp cận theo cách khô khan, lịch sử dễ trở nên xa cách, khó khơi dậy cảm xúc. Ngược lại, “những người làm nên lịch sử” chính là những con người cụ thể với số phận, cảm xúc, hi sinh và khát vọng. Họ là những chiến sĩ, những người dân bình thường, những anh hùng đã góp phần tạo nên những bước ngoặt của dân tộc. Khi lịch sử được nhìn qua lăng kính con người, nó trở nên sống động, gần gũi và dễ lay động trái tim hơn.
Thực tế cho thấy, điều khiến chúng ta xúc động không phải là con số “triệu tấn bom” hay những năm tháng chiến tranh kéo dài, mà là hình ảnh những con người kiên cường trong hoàn cảnh ấy. Đó là sự hi sinh của những chiến sĩ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, là tinh thần quả cảm của lớp lớp thanh niên trong kháng chiến chống Mỹ, hay sự lãnh đạo kiên định của Hồ Chí Minh trong hành trình giành độc lập dân tộc. Chính những con người ấy đã biến lịch sử từ những dòng chữ vô tri thành câu chuyện đầy cảm xúc và ý nghĩa. Khi ta hiểu về họ, ta không chỉ biết “điều gì đã xảy ra” mà còn cảm nhận được “vì sao nó xảy ra” và “nó có ý nghĩa gì”.
Hơn nữa, con người là trung tâm của lịch sử. Mỗi sự kiện lớn đều được tạo nên từ hành động, quyết định và khát vọng của con người. Vì vậy, việc khơi dậy cảm xúc từ lịch sử cũng chính là khơi dậy sự đồng cảm với những con người trong quá khứ. Khi ta xúc động trước họ, ta sẽ dễ dàng hình thành lòng biết ơn, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm đối với hiện tại. Đây cũng là cách để lịch sử trở nên có giá trị giáo dục sâu sắc, chứ không chỉ là tri thức cần ghi nhớ.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của những bài giảng lịch sử. Vấn đề không nằm ở bản thân lịch sử, mà ở cách truyền đạt. Một bài giảng giàu cảm xúc, biết kể lại câu chuyện của con người, tái hiện được bối cảnh và tinh thần thời đại sẽ khiến người học rung động. Khi đó, bài giảng lịch sử không còn khô cứng mà trở thành cầu nối đưa chúng ta đến gần hơn với những con người đã làm nên lịch sử.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, việc học lịch sử không chỉ để biết mà còn để hiểu và trân trọng. Chúng ta cần nhìn lịch sử bằng cả lí trí và trái tim: lí trí để nhận thức đúng đắn, và trái tim để cảm nhận sâu sắc. Khi biết xúc động trước những con người trong lịch sử, ta sẽ biết sống có trách nhiệm hơn với hiện tại, biết gìn giữ và phát huy những giá trị mà cha ông đã dày công xây dựng.
Tóm lại, ý kiến trên đã khẳng định một chân lí: chính con người là linh hồn của lịch sử. Chỉ khi ta cảm nhận được những con người ấy, lịch sử mới thực sự sống dậy và chạm đến trái tim mỗi chúng ta.
<h4 class = “bg”> định dạng: chữ nghiêng, màu đỏ, nền xám. Vì lớp bg khai báo sau nên thuộc tính trong H4 giống trong bg sẽ bị thay thế bởi bg → Định dạng đúng: Màu chữ đỏ, nền vàng, chữ nghiêng.
<h4 id = “p1”> định dạng được ưu tiên như trên. → Định dạng đúng: Nền xám, chữ xanh, chữ nghiêng, phông chữ Arial.
<p id = “p1”> và <p id=”p2”> định dạng theo bộ chọn định danh, không ảnh hưởng bởi các bộ chọn khác.
20 máy tính → Switch 24 cổng là phù hợp → nếu sử dụng Switch thì các máy tính cần có cổng Ethernet (cổng RJ45) → Dùng cáp xoắn đôi UTP để tiết kiệm chi phí. Sau đó, kết nối lần lượt các máy tính với Switch thông qua cáp, kết nối máy in với 1 máy tính thông qua dây cáp USB.
Các thiết bị như ổ cắm và công tắc điện thông minh trong ngôi nhà thông minh: giúp nâng cao sự tiện lợi, an toàn và tiết kiệm năng lượng; cho phép điều khiển từ xa qua các thiết bị di động; tự động hóa các thói quen hàng ngày; theo dõi và quản lý lượng điện năng tiêu thụ; cải thiện an ninh nhà ở bằng cách phát hiện các sự cố điện và ngắt mạch khi cần thiết. Vì vậy, các thiết bị này đóng một vai trò trung tâm trong việc tạo nên một trải nghiệm sống hiện đại, an toàn và hiệu quả hơn.
Viết bộ chọn lớp có dạng .<tên>{<thuộc tính>:<giá trị>;} các đặc điểm sau:
- Màu của phần/vùng viền bao quanh đoạn văn bản là màu cam (#FFA500) → border: 2px solid #FFA500
- Kiểu chữ đậm, màu chữ đen → font-weight:bold; color: black;
- Kích thước chữ lớn hơn 2 lần so với kích thước gốc là 15px → font-size: 30px
Bộ chọn (vùng chọn) là: .mark{ border: 2px solid #FFA500; font-weight:bold; color: black; font-size: 30px}
Câu 1:
Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích là: tự sự, miêu tả, biểu cảm và nghị luận. Những phương thức này kết hợp giúp tái hiện sinh động diễn biến câu chuyện, khắc họa tâm lý nhân vật và thể hiện tư tưởng, cảm xúc của tác giả.
Câu 2:
Sự việc được tái hiện trong đoạn trích là: cảnh Thúy Kiều báo ân báo oán. Cụ thể là cảnh Kiều đối mặt với Hoạn Thư, xét tội rồi tha cho bà ta vì có thái độ biết lỗi; sau đó trừng trị những kẻ đã gây ra đau khổ cho mình như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh,...
Câu 3:
Hoạn Thư được Thúy Kiều tha tội vì:
Khéo léo biện bạch, nhận lỗi và quy hành động ghen tuông là “thường tình”.
Nhắc lại việc từng nương nhẹ với Kiều (cho viết kinh, không đuổi bắt khi Kiều trốn).
Tỏ ra biết lỗi (tri quá).
Kiều tuy từng chịu khổ nhưng vẫn giữ được tấm lòng bao dung, vị tha.
Câu 4:
Đoạn thơ sử dụng biện pháp liệt kê và câu hỏi tu từ:
Liệt kê các nhân vật đã tiếp tay hãm hại Kiều như Bạc Hạnh, Ưng, Khuyển, Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh, tạo hiệu ứng dồn dập, nhấn mạnh tội ác của họ.
Câu hỏi tu từ “Các tên tội ấy đáng tình còn sao?” nhằm khẳng định sự cần thiết phải trừng trị những kẻ đó, thể hiện sự công minh, chính trực của Kiều trong khi xử án.
Câu 5:
Nội dung đoạn trích:
Đoạn thơ thể hiện tư tưởng báo ân báo oán phân minh của Thúy Kiều. Nàng tha cho Hoạn Thư vì người này biết lỗi, từng nương tay nhưng trừng trị thẳng tay những kẻ gian ác. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện tinh thần nhân đạo, đề cao lòng vị tha, đồng thời gửi gắm quan niệm luật nhân quả, gieo gió gặt bão trong cuộc sống.
d
Câu 1:
Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích là: tự sự, miêu tả, biểu cảm và nghị luận. Những phương thức này kết hợp giúp tái hiện sinh động diễn biến câu chuyện, khắc họa tâm lý nhân vật và thể hiện tư tưởng, cảm xúc của tác giả.
Câu 2:
Sự việc được tái hiện trong đoạn trích là: cảnh Thúy Kiều báo ân báo oán. Cụ thể là cảnh Kiều đối mặt với Hoạn Thư, xét tội rồi tha cho bà ta vì có thái độ biết lỗi; sau đó trừng trị những kẻ đã gây ra đau khổ cho mình như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh,...
Câu 3:
Hoạn Thư được Thúy Kiều tha tội vì:
Khéo léo biện bạch, nhận lỗi và quy hành động ghen tuông là “thường tình”.
Nhắc lại việc từng nương nhẹ với Kiều (cho viết kinh, không đuổi bắt khi Kiều trốn).
Tỏ ra biết lỗi (tri quá).
Kiều tuy từng chịu khổ nhưng vẫn giữ được tấm lòng bao dung, vị tha.
Câu 4:
Đoạn thơ sử dụng biện pháp liệt kê và câu hỏi tu từ:
Liệt kê các nhân vật đã tiếp tay hãm hại Kiều như Bạc Hạnh, Ưng, Khuyển, Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh, tạo hiệu ứng dồn dập, nhấn mạnh tội ác của họ.
Câu hỏi tu từ “Các tên tội ấy đáng tình còn sao?” nhằm khẳng định sự cần thiết phải trừng trị những kẻ đó, thể hiện sự công minh, chính trực của Kiều trong khi xử án.
Câu 5:
Nội dung đoạn trích:
Đoạn thơ thể hiện tư tưởng báo ân báo oán phân minh của Thúy Kiều. Nàng tha cho Hoạn Thư vì người này biết lỗi, từng nương tay nhưng trừng trị thẳng tay những kẻ gian ác. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện tinh thần nhân đạo, đề cao lòng vị tha, đồng thời gửi gắm quan niệm luật nhân quả, gieo gió gặt bão trong cuộc sống.
d