Vương Ngọc Quỳnh
Giới thiệu về bản thân
Trần Tế Xương (Tú Xương) vốn là một nhà thơ tiểu biểu cho thể loại thơ tào phúng,ông nổi lên như một hiện tượng độc đáo. Giữa một xã hội thực dân nửa phong kiến đang dần suy tàn, tiếng cười của ông không chỉ để giải trí mà còn là một thứ con dao sắc bén để lột trần những thói hư tật xấu. Bài thơ "Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt" là một bức tranh trào phúng đặc sắc, khắc họa lên cái sự kệch cỡm của những kẻ thích "treo đầu dê bán thịt chó", mượn cái danh tri thức để che đậy cho sự tầm thường của bản thân. Ngay từ hai câu đề , Tú Xương đã dẫn dắt người đọc vào một tình huống với những câu hỏi tu từ đầy ẩn ý: "Hỏi thăm quê quán ở nơi mô? Không học mà sao cũng gọi đồ?" Trong xã hội xưa, "ông đồ" vốn là một danh xưng cao quý, dành cho những người có học vấn và tâm hồn cao đẹp. Thế nhưng, nhân vật "ông đồ Bốn" này lại bị tác giả bóc trần sự thật rằng "không học" thế mà vẫn có thể trở thành một ông đồ đức cao vọng trọng. Việc sử dụng từ địa phương "nơi mô" không chỉ tạo ra sự hóm hỉnh ,hài hước cho bài thơ,mà còn cho thấy được sự mơ hồ về gốc gác của nhân vật. Tác giả tiếp tục dùng nghệ thuật giả định để châm biếm sâu cay: "Ý hẳn người yêu mà gọi thế, Hay là mẹ đẻ đặt tên cho!" Cách giải thích này cực kỳ tai quái. Tú Xương đã hạ thấp danh xưng "đồ" xuống ngang hàng với một cái tên gọi ở nhà hay một cách gọi âu yếm của tình nhân. Qua đó, ông gián tiếp mỉa mai rằng: Cái danh hiệu tri thức ấy chẳng qua chỉ là một sự ngộ nhận hoặc là một cái tên vô nghĩa, hoàn toàn không có chút giá trị thực học nào. Càng đi sâu vào phân tích, chân dung của ông đồ Bốn hiện lên rõ nét hơn qua vẻ bề ngoài và cách ứng xử: "Áo quần đĩnh đạc trông ra cậu, Ăn nói nhề nhàng nhác giọng Ngô." Ở đây, Tú Xương sử dụng các từ láy "đĩnh đạc", "nhề nhàng" để miêu tả vẻ ngoài cố gồng mình lên cho giống một bậc trí thức thượng lưu. Nhân vật này xuất hiện với vẻ ngoài bảnh bao như một "cậu" công tử. Tuy nhiên, cái giọng nói "nhác giọng Ngô" (giọng lơ lớ, bắt chước người ngoài) đã tố cáo sự lai căng, thiếu bản sắc. Đó là kiểu người cố học đòi làm sang nhưng lại thành ra kệch cỡm, lố lăng. Sự đối lập giữa bộ quần áo chỉnh tề và bản chất rỗng tuếch bên trong chính là trung tâm của tiếng cười trào phúng. Nút thắt của bài thơ được tháo gỡ một cách bất ngờ và đầy mỉa mai ở câu kết: "Hỏi mãi mới ra thằng bán sắt." Sự thật được phơi bày một cách trần trụi. Hóa ra "ông đồ" lừng danh chỉ là một "thằng bán sắt". Việc thay đổi đại từ nhân xưng từ "ông" sang "thằng" thể hiện thái độ khinh bỉ của nhà thơ. Tú Xương đã sử dụng nghệ thuật gây cười bằng cách tạo sự tương phản cực độ: Giữa một bên là nghề "đồ nho" thanh cao và một bên là nghề buôn bán sắt thép ở phố Hàng Sắt. Có lẽ, cái tên "đồ" ở đây thực chất chỉ là "đồ sắt", "đồ dùng" chứ chẳng phải chữ nghĩa thánh hiền gì. Về mặt nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ bình dân, lối nói hóm hỉnh nhưng chứa đựng sức công phá mạnh mẽ. Thể thơ thất ngôn truyền thống được vận dụng linh hoạt, kết hợp với phép đối và cách tạo bất ngờ ở câu cuối (câu hạ bm) đã tạo nên một bài thơ trào phúng mẫu mực. Tóm lại, bài thơ không chỉ giễu cợt cá nhân ông đồ Bốn mà còn là lời phê phán sự hỗn loạn của giá trị đạo đức trong xã hội giao thời. Qua đó, ta thấy được tấm lòng của Tú Xương – một nhà thơ luôn đau đáu trước những sự giả dối và luô
Tinh thần yêu nước là một truyền thống quý báu mà em luôn tự hào và gìn giữ. Để thể hiện tình cảm đó em sẽ luôn nỗ lực học tập chăm chỉ và rèn luyện đạo đức để trở thành một công dân có ích cho xã hội. Em cũng đã tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường và tìm hiểu về lịch sử hào hùng của dân tộc để thêm yêu quê hương. Đối với em, yêu nước chính là hoàn thành tốt trách nhiệm của một học sinh
Lòng yêu nước và căm thù giặc của tác giả qua bài thơ thể hiện nỗi đau xót trước cảnh đất nước bị xâm lược, đồng thời bộc lộ thái độ căm phẫn sâu sắc đối với tội ác của kẻ thù.Sự đồng cảm trước nỗi khổ của nhân dân tác giả xót thương trước cảnh nhà tan cửa nát, trẻ con và người dân vô tội phải chạy loạn (hình ảnh "lũ trẻ lơ xơ chạy", "bầy chim dáo dác bay")Lời kêu gọi trách nhiệm: Hai câu cuối là lời chất vấn, kêu gọi những người có khả năng và trách nhiệm ("trang dẹp loạn") đứng ra cứu nước, giúp dân thoát khỏi cảnh lầm than.Đây là một tác phẩm mang tinh thần dân tộc cao, nhắc nhở về ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia trong thời kỳ loạn lạc.