Ngô Thanh Hằng

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Ngô Thanh Hằng
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Phương thức biểu đạt: Tự sự. Câu 2: Ngôi kể thứ ba. Câu 3: Nội dung: Kể chuyện con chó trung nghĩa, qua đó phê phán con người đời sau bạc nghĩa, mất khí tiết. Câu 4: Yếu tố kì ảo: Con chó nói tiếng người → làm nổi bật lòng trung nghĩa và tăng sức cảnh tỉnh, răn dạy. Câu 5: Bài học: Phải sống trung nghĩa, biết ơn, giữ khí tiết; không chạy theo danh lợi mà quên đạo làm người.

Câu 1: Thể loại truyền kì. Câu 2: Tình huống: Trở về quê sau một năm tiên giới nhưng dưới trần đã trôi qua 80 năm. Câu 3: Không gian huyền ảo (động tiên – trần gian), thời gian đảo lộn → tăng màu sắc kì ảo. Câu 4: Yếu tố kì ảo: Xe mây đưa Từ Thức về → thể hiện sự khác biệt giữa hai cõi và làm nổi bật số phận lạc lõng. Câu 5: Hành động cuối cùng cho thấy Từ Thức cô đơn, tiếc nuối, thất vọng vì không còn nơi trở về; gợi suy nghĩ về sự vô định của khát vọng thoát tục và nỗi lạc lõng giữa hai thế giới.

Câu 1: Thể loại truyện truyền kì. Câu 2: Chủ đề: Ca ngợi tình yêu chân thành và phê phán lễ giáo trọng giàu khinh nghèo. Câu 3: Vì chê chàng nghèo nên cha cô ngăn cản; cách hành xử định kiến, tàn nhẫn. Câu 4: Chi tiết kì ảo (khối đỏ tan thành máu) → làm nổi bật tình yêu mãnh liệt, chung thủy của cô gái và tăng tính bi thương. Câu 5: Tình yêu thời phong kiến bị trói buộc bởi lễ giáo và thân phận; con người khát khao yêu thật lòng nhưng chịu nhiều bi kịch. Từ đó cần trân trọng tình yêu tự do, bình đẳng.

Câu 1: Ngôi kể thứ nhất. Câu 2: – Lời dẫn trực tiếp: “Em đừng buồn… cho bố đi nào.” – Lời kể: “Cha chuyền tay trao con gái…” Câu 3: Người cha quyết đoán, mạnh mẽ, đặt nhiệm vụ lên trên tình riêng. Câu 4: Liệt kê → nhấn mạnh nỗi lo thường trực và trách nhiệm của cha. Câu 5: Đồng tình, vì cách giáo dục nghiêm khắc giúp con trưởng thành và sống đúng.

Câu 1: Ngôi kể thứ ba. Câu 2: Tác phẩm nhạt nhẽo, vô vị, không mới lạ. Câu 3: Liệt kê → thể hiện sự say mê, lao động nghiêm túc của Hộ. Câu 4: Hộ có lý tưởng nghệ thuật, có trách nhiệm, biết tự phê phán. Câu 5: Đồng ý, vì văn chương cần sáng tạo và tìm tòi điều mới.

Câu 1: Ngôi kể thứ ba. Câu 2: Hình tượng người mẹ. Câu 3: Điệp ngữ “thương” → nhấn mạnh nỗi xót xa, tình thương của chị Lành. Câu 4: Dì Diệu giàu tình cảm, khao khát làm mẹ và đầy day dứt. Câu 5: Bài học: Qua văn bản, em hiểu rằng tình mẫu tử luôn thiêng liêng và cao đẹp, dù ở trong hoàn cảnh nào. Người mẹ luôn chấp nhận hi sinh để con được sống và lớn lên. Từ đó em biết trân trọng hơn công lao và tình thương của mẹ mình, đồng thời học cách sống biết ơn những hi sinh thầm lặng của người khác dành cho mình.

c1: viết theo thể thơ lục bát. c2:Văn bản thuộc thể loại truyện thơ Nôm c3:“Vầng trăng ai xẻ làm đôi? Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.” Biện pháp tu từ: Ẩn dụ – so sánh ngầm và câu hỏi tu từ. Tác dụng: Hình ảnh “vầng trăng xẻ làm đôi” ẩn dụ cho sự chia lìa, đứt đoạn của đôi lứa. Trăng chia đôi biểu tượng hóa cảnh một người ở-một người đi, gợi nỗi cô đơn, trống trải và tình yêu dang dở. Câu hỏi tu từ tăng sức gợi cảm, làm nổi bật nỗi buồn chia phôi sâu sắc. c4:Cảm hứng chủ đạo: Nỗi buồn chia ly, cảm xúc bi kịch của cuộc tiễn biệt đầy bịn rịn giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều. Không khí man mác, thấm đượm nỗi lo âu và dự cảm chẳng lành. Nhan đề đề xuất: -Cuộc tiễn biệt Thúc Sinh – Thúy Kiều hoặc -Nỗi buồn chia phôi hoặc Vầng trăng chia ly. c5:Những lời dặn dò của Thúy Kiều dành cho Thúc Sinh: -Về nhà phải nói rõ ràng, thành thật với Hoạn Thư về việc đã cưới Kiều. -Điều gì nên đối mặt thì đối mặt, không giấu giếm để rồi gây hậu họa. -Dặn người thương phải vững lòng, giữ trọn tình nghĩa dù có “sóng gió bất bình”. -Nhắc nhau nhớ buổi chia tay, hẹn mong ngày đoàn tụ. Điều đó cho thấy Kiều là người: -Sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời: biết việc giấu giếm không thể bền lâu. -Chung tình, thủy chung, luôn nghĩ cho người yêu. -Can đảm và tự trọng: sẵn sàng nhận phần thiệt về mình -Tế nhị, khôn khéo nhưng đầy bản lĩnh trong ứng xử của người phụ nữ tài sắc.

c1:Thúy Kiều c2:Phép đối trong hai dòng thơ: “Dập dìu lá gió cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.” Các cặp từ đối nhau: lá gió - cành chim, sớm - tối, Tống Ngọc - Trường Khanh. Đây là phép đối chỉnh cả về hình ảnh và thời gian -nhân vật. c3:Hiệu quả nghệ thuật của cách ngắt nhịp trong câu thơ: “Giật mình, mình lại thương mình xót xa.” Nhịp thường: 3/3/2 hoặc 3/5, đặc biệt có dấu phẩy sau “Giật mình”. Cách ngắt nhịp tách câu thành nhiều phần nhỏ, tạo cảm giác đứt quãng, thể hiện: Cú choáng váng, bàng hoàng của Kiều khi ý thức về thân phận. Nỗi tự thương mình dội lên nhiều lần (“mình… mình”), nhấn mạnh sự cô độc và đau xót. c4:“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?” Khi lòng người trĩu nặng đau khổ thì cảnh vật xung quanh dù đẹp đến đâu cũng nhuốm màu buồn. Hai câu thơ thể hiện quy luật tương giao giữa cảnh và tình, phản chiếu tâm trạng tuyệt vọng của Kiều: nỗi buồn khiến nhìn đâu cũng thấy sầu thảm. Câu 5. Tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích có ý nghĩa mới mẻ đối với văn học trung đại ở chỗ: Lần đầu tiên, bi kịch nội tâm của người phụ nữ bị đẩy đến mức sâu sắc như vậy: sự ý thức về thân phận, nỗi tự thương, tự vấn, cảm xúc cá nhân được đặt ở vị trí trung tâm. Tác phẩm đề cao giá trị con người cá nhân, vượt ra ngoài quan niệm văn học trung đại vốn coi trọng khuôn mẫu, đạo lí hơn cảm xúc cá nhân. Việc miêu tả chân thực nỗi đau thân phận của một kĩ nữ cho thấy bước tiến nhân đạo mạnh mẽ, mở đường cho văn học hướng đến đời tư - nội cảm.

c1:thể thơ lục bát c2:Một điển tích, điển cố trong đoạn: “Trâm gãy, bình rơi”- lấy ý từ thơ Đường, nói về cái chết của người con gái bạc mệnh. c3:“Sè sè nấm đất bên đàng, Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.” Biện pháp tu từ nổi bật: từ láy gợi hình, gợi cảm (sè sè, dàu dàu). Tác dụng: Gợi tả dáng vẻ thấp, nhỏ bé, heo hút của nấm mồ bên đường. Tạo không khí hiu hắt, buồn bã, gợi sự tàn phai của cảnh vật. Nhấn mạnh thân phận lẻ loi, vô chủ, bạc mệnh của Đạm Tiên, làm nền cho cảm xúc thương cảm của Kiều. c4: Hệ thống từ láy trong đoạn trích: sè sè, dàu dàu, xôn xao, lờ mờ, đầm đầm… Tác dụng: Gợi hình ảnh sinh động, tạo sắc thái biểu cảm đặc trưng. Khắc họa không khí buồn thương, mờ nhạt, lạnh lẽo của cảnh mộ Đạm Tiên. Thể hiện tinh tế các cung bậc cảm xúc của nhân vật (như đầm đầm gợi sự xúc động sâu sắc của Kiều). c5: Tâm trạng, cảm xúc của Thúy Kiều: Xúc động mạnh, thương cảm cho số phận bạc mệnh của Đạm Tiên. Buồn đau, thổn thức đến mức “đầm đầm châu sa”. Từ mối thương người mà nghĩ đến thân phận chung của người phụ nữ, thốt lên: “Đau đớn thay phận đàn bà! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.” Điều đó cho thấy Kiều là người: Nhân hậu, đa cảm, giàu lòng trắc ẩn. Thấu hiểu thân phận con người, đặc biệt là thân phận phụ nữ trong xã hội cũ. Có tâm hồn tinh tế, đồng cảm sâu xa với nỗi khổ của người khác.

City life offers a dynamic and vibrant environment that many people find appealing. One of the primary advantages is the abundance of opportunities and amenities. Cities are hubs for employment, education, entertainment, and healthcare, providing residents with diverse choices and conveniences. The constant hustle and bustle, along with cultural diversity, creates a unique energy that can be stimulating and inspiring. However, there are also significant drawbacks. The fast pace can be stressful, and the high population density often leads to crowded public spaces and heavy traffic congestion. Additionally, the cost of living in major cities tends to be much higher, and noise and air pollution are common concerns. Despite these challenges, the excitement and opportunities often outweigh the negatives for those who thrive in such an environment.