Thân Ngọc Thảo Linh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Thân Ngọc Thảo Linh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do (hoặc thơ 8 chữ chiếm ưu thế nhưng có sự biến đổi linh hoạt về số chữ giữa các dòng).

Câu 2: Chủ thể trữ tình là người mẹ (xưng "mẹ", gọi "con").

Câu 3:

- Biện pháp nhân hoá: Thể hiện qua các từ ngữ chỉ đặc điểm, hoạt động của con người: "thơm thảo", "hát".

-Tác dụng:

+Làm cho hình ảnh "cỏ" (biểu tượng cho người con) trở nên sinh động, gần gũi, có tâm hồn và tình cảm như một con người thực thụ.

+Nhấn minh vẻ đẹp tâm hồn của người con: vừa ngoan ngoãn, hiếu thảo ("thơm thảo"), vừa yêu đời, tràn đầy sức sống ("hát khúc mùa xuân").

+Qua đó, thể hiện niềm tự hào, niềm vui sướng của người mẹ khi chứng kiến sự trưởng thành và vẻ đẹp của con.

Câu 4:

-Qua hai dòng thơ, người mẹ mong con có một cuộc đời:

-Hồn nhiên: Được sống đúng với lứa tuổi, bình yên, không phải lo toan, phiền muộn.

-Có ích: Con lớn lên vững vàng ("phủ xanh non"), mang lại vẻ đẹp và niềm vui cho cuộc đời ("đất mẹ hiền hòa").

-Mẹ mong con phát triển tự nhiên, mạnh khỏe và là niềm hạnh phúc của mẹ.

Câu 5:Tình mẫu tử là món quà thiêng liêng nhất, vì vậy bản thân mỗi chúng ta cần có những hành động thiết thực để vun đắp tình cảm ấy. Trước hết, em sẽ luôn nỗ lực học tập và rèn luyện đạo đức để mẹ vui lòng, bởi sự thành công của con cái chính là niềm tự hào lớn nhất của mẹ. Bên cạnh đó, em sẽ dành thời gian quan tâm, lắng nghe và chia sẻ với mẹ những vui buồn trong cuộc sống để kéo gần khoảng cách giữa hai thế hệ. Những hành động nhỏ như phụ giúp việc nhà, chăm sóc mẹ khi ốm đau hay đơn giản là một lời cảm ơn chân thành cũng đủ để sưởi ấm trái tim mẹ. Cuối cùng, em sẽ luôn trân trọng từng phút giây bên mẹ, sống tử tế và yêu thương để không phụ công lao dưỡng dục sinh thành.


Trong nền văn học Việt Nam hiện thực trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là nhà văn tiêu biểu với những trang viết giàu giá trị nhân đạo. Truyện ngắn Lão Hạc đã để lại nhiều xúc động sâu sắc khi khắc họa hình ảnh người nông dân nghèo khổ nhưng giàu lòng tự trọng và tình thương con.

Trước hết, nhân vật lão Hạc hiện lên với hoàn cảnh vô cùng đáng thương. Vợ mất sớm, con trai vì nghèo túng mà bỏ đi làm đồn điền cao su, lão sống thui thủi một mình với mảnh vườn và con chó Vàng – kỉ vật của con trai để lại. Cuộc sống túng quẫn, ốm đau, đói kém khiến lão phải bán đi con chó – người bạn thân thiết nhất. Cảnh lão kể chuyện bán chó với ông giáo cho thấy sự đau đớn, dằn vặt đến tột cùng. Lão khóc như một đứa trẻ, tự trách mình đã “lừa một con chó”. Qua đó, Nam Cao đã thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc nỗi đau tinh thần của người nông dân khi bị cái nghèo dồn đến bước đường cùng.

Không chỉ đáng thương, lão Hạc còn là người giàu tình yêu thương và lòng tự trọng. Lão thương con nên quyết giữ mảnh vườn cho con, dù bản thân phải sống trong đói khổ. Lão từ chối sự giúp đỡ của ông giáo vì sợ mang ơn. Đặc biệt, cái chết dữ dội của lão – ăn bả chó để tự kết liễu đời mình – không phải là sự yếu đuối mà là cách lão chọn để bảo toàn tài sản cho con và giữ trọn nhân phẩm. Cái chết ấy vừa đau đớn vừa cao cả, tố cáo xã hội tàn nhẫn đã đẩy người lương thiện vào đường cùng.

Bên cạnh nhân vật lão Hạc, truyện còn thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Nhà văn không chỉ cảm thông với số phận người nông dân mà còn trân trọng, ngợi ca phẩm chất tốt đẹp ẩn sau vẻ ngoài lam lũ của họ. Qua cái nhìn của ông giáo, người đọc nhận ra rằng không nên đánh giá con người một cách hời hợt, bởi “chao ôi, đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố mà hiểu họ…”.,

Sau câu truyện, Lão Hạc là một truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân đạo. Tác phẩm không chỉ phản ánh cuộc sống cơ cực của người nông dân trước Cách mạng mà còn khẳng định vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của họ. Đọc truyện, em càng trân trọng tình yêu thương, lòng tự trọng và hiểu hơn giá trị của một cuộc sống nhân ái.


Trong bài thơ “Khi mùa mưa đến”, nhà thơ thể hiện cảm hứng trước vẻ đẹp của thiên nhiên khi mùa mưa về. Những cơn mưa không chỉ làm cho cảnh vật trở nên tươi mới, mát lành mà còn khơi gợi trong lòng người nhiều cảm xúc sâu lắng. Qua đó, ta cảm nhận được tình yêu thiên nhiên tha thiết và tâm hồn nhạy cảm của tác giả. Mùa mưa hiện lên vừa dịu dàng, vừa mang đến sức sống mới, thể hiện niềm rung động và sự gắn bó của nhà thơ với quê hương, đất trời.


Ý thơ “Ta hoá phù sa mỗi bến chờ” thể hiện khát vọng được sống có ích, được cống hiến thầm lặng cho đời. “Phù sa” là hình ảnh ẩn dụ cho sự bồi đắp, nuôi dưỡng và làm nên sự trù phú. Qua đó, tác giả bày tỏ mong muốn được hi sinh, dâng hiến những điều tốt đẹp cho cuộc sống, giống như phù sa âm thầm bồi đắp cho bến bờ. Câu thơ thể hiện lí tưởng sống đẹp, sống vì người khác.


Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học trung đại Việt Nam, nổi bật với giọng thơ trào phúng sâu cay mà thấm thía. Bài thơ “Giễu ông đồ bốn ở phố Hàng Sắt” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua việc giễu cợt một ông đồ dởm, tác giả không chỉ châm biếm một cá nhân mà còn phê phán cả một lớp người học hành hời hợt, khoe chữ rỗng tuếch trong xã hội đương thời.

Trước hết, đối tượng trào phúng của bài thơ là ông đồ bốn – một người học chữ Nho không đến nơi đến chốn nhưng lại thích phô trương, tự cho mình là hay chữ. Chỉ với cách gọi “đồ bốn”, Nguyễn Khuyến đã hàm ý mỉa mai: học hành chưa sâu, chưa đỗ đạt nhưng lại thích ra vẻ trí thức. Hình ảnh ông đồ ngồi ở phố Hàng Sắt – nơi buôn bán ồn ào, thực dụng – càng làm nổi bật sự lạc lõng, kệch cỡm của một kẻ khoác áo nho sĩ nhưng không có thực học.

Nghệ thuật trào phúng trong bài thơ được thể hiện rõ qua lối miêu tả ngoại hình, hành vi và cách khoe chữ của ông đồ. Nguyễn Khuyến sử dụng ngôn ngữ dân dã, giọng điệu châm biếm nhẹ mà thấm để vạch trần cái rỗng bên trong lớp vỏ học thức. Ông đồ viết chữ nhưng chữ nghĩa sai lệch, nói đạo lý nhưng lời lẽ sáo rỗng, khoe kiến thức nhưng lại phơi bày sự dốt nát. Tiếng cười trong bài thơ không ồn ào mà kín đáo, khiến người đọc vừa buồn cười vừa ngẫm ngợi.

Không dừng lại ở việc đả kích cá nhân, bài thơ còn mang ý nghĩa phê phán xã hội sâu sắc. Trong bối cảnh cuối thế kỉ XIX, khi Nho học đã suy tàn, nhiều kẻ vẫn cố bám víu vào danh xưng “ông đồ” để kiếm sống và giữ sĩ diện. Nguyễn Khuyến giễu ông đồ bốn cũng chính là giễu thói học giả, bằng giả, chữ nghĩa nửa mùa, coi trọng hình thức hơn giá trị thực. Qua đó, nhà thơ bày tỏ thái độ không khoan nhượng với lối sống giả dối, thiếu trung thực trong học vấn và nhân cách.

Bên cạnh tiếng cười châm biếm, bài thơ còn ẩn chứa nỗi buồn của một nhà nho chân chính. Nguyễn Khuyến từng là người học rộng, tài cao nhưng bất lực trước thời cuộc. Khi chứng kiến những kẻ dốt nát khoác lác chữ nghĩa, ông vừa khinh bỉ, vừa đau xót cho sự suy đồi của đạo học. Tiếng cười trào phúng vì thế mang màu sắc cay đắng, phản ánh tâm trạng bất lực của trí thức trước sự đảo lộn các giá trị tinh thần.

Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ kết cấu chặt chẽ, ngôn ngữ sắc sảo, giọng điệu mỉa mai tinh tế. Nguyễn Khuyến không cần lời lẽ gay gắt mà vẫn làm nổi bật bản chất đáng cười của đối tượng bị giễu. Cách trào phúng kín đáo ấy khiến tác phẩm vừa có giá trị giải trí, vừa có chiều sâu tư tưởng.

Tóm lại, “Giễu ông đồ bốn ở phố Hàng Sắt” là bài thơ trào phúng đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Qua hình ảnh ông đồ dởm, tác giả phê phán thói học hành hời hợt, khoe khoang chữ nghĩa rỗng, đồng thời thể hiện nỗi buồn trước sự xuống cấp của đạo học và nhân cách con người. Bài thơ không chỉ có giá trị trong thời đại của Nguyễn Khuyến mà còn mang ý nghĩa cảnh tỉnh sâu sắc đối với xã hội hôm nay.


Em thể hiện tình yêu nước bằng việc chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức để trở thành người có ích cho xã hội. Em luôn chấp hành tốt nội quy nhà trường, pháp luật và tôn trọng kỉ luật chung. Bên cạnh đó, em tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng như giữ gìn vệ sinh môi trường, giúp đỡ người khó khăn. Trong tương lai, em sẽ không ngừng học hỏi, trau dồi tri thức để góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp


Bài thơ gửi gắm nỗi đau xót và lòng căm phẫn của tác giả trước cảnh quê hương, cuộc sống yên bình của nhân dân Nam Bộ bị giặc Tây tàn phá. Qua đó, tác giả lên án tội ác chiến tranh xâm lược, bày tỏ tình yêu nước, thương dân sâu sắc và nỗi day dứt trước cảnh dân lành phải chịu cảnh tan tác, lầm than.


Trong xã hội hiện đại, giới trẻ là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh nhiều bạn trẻ sống tích cực, có lý tưởng, vẫn còn một bộ phận giới trẻ mang lối sống vô trách nhiệm, gây ra không ít hệ lụy đáng lo ngại cho bản thân, gia đình và xã hội.

Trước hết, lối sống vô trách nhiệm là cách sống thiếu ý thức với bản thân và cộng đồng: học tập đối phó, làm việc qua loa, né tránh bổn phận, đổ lỗi cho người khác khi gặp sai sót. Trong học đường, biểu hiện của lối sống này rất dễ thấy: nhiều bạn học sinh lười học, quay cóp, gian lận thi cử, vi phạm nội quy nhưng không dám nhận lỗi. Ngoài xã hội, có không ít người trẻ sống buông thả, thờ ơ với các vấn đề chung, thậm chí sẵn sàng gây tổn hại đến môi trường, trật tự công cộng chỉ vì lợi ích cá nhân.

Nguyên nhân của thực trạng trên xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là do nhận thức chưa đúng đắn: một số bạn trẻ cho rằng còn trẻ thì được phép sai lầm, sống tùy hứng, chưa cần lo nghĩ nhiều. Bên cạnh đó, sự buông lỏng trong giáo dục của gia đình, sự tác động tiêu cực từ mạng xã hội, lối sống thực dụng, đề cao hưởng thụ cũng góp phần hình thành thói quen sống vô trách nhiệm. Ngoài ra, việc thiếu mục tiêu, lý tưởng sống rõ ràng khiến nhiều bạn trẻ rơi vào trạng thái thờ ơ, buông xuôi.

Lối sống vô trách nhiệm để lại hậu quả nghiêm trọng. Với bản thân, nó khiến con người đánh mất cơ hội học tập, rèn luyện, dễ thất bại trong tương lai. Với gia đình, đó là nỗi lo lắng, thất vọng của cha mẹ. Còn với xã hội, một thế hệ trẻ sống vô trách nhiệm sẽ làm chậm sự phát triển, phá vỡ những giá trị tốt đẹp và gây bất ổn lâu dài.

Trước thực trạng ấy, mỗi bạn trẻ cần tự nhìn lại chính mình. Chúng ta phải rèn luyện ý thức trách nhiệm từ những việc nhỏ nhất: học tập nghiêm túc, dám nhận lỗi, giữ lời hứa, sống có kỷ luật và biết quan tâm đến người khác. Gia đình và nhà trường cũng cần phối hợp giáo dục, định hướng lối sống đúng đắn, giúp giới trẻ hình thành nhân cách tốt và lý tưởng sống cao đẹp.

Tóm lại, lối sống vô trách nhiệm của một bộ phận giới trẻ là vấn đề đáng báo động. Là học sinh – thế hệ tương lai của đất nước, mỗi chúng ta cần sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, bởi chỉ khi đó, giới trẻ mới thực sự xứng đáng là lực lượng gánh vác và xây dựng tương lai của dân tộc.


Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2.

Đối tượng trào phúng trong bài thơ là chính tác giả (Nguyễn Khuyến) – một nhà nho tự cười mình.

Câu 3.

-“Làng nhàng” có nghĩa là tầm thường, không nổi bật, không ra sao cả.

-Từ này góp phần thể hiện thái độ tự trào, tự giễu, pha chút chán chường, tự ý thức về sự bất lực và vị thế “dở dang” của bản thân.

Câu 4.

-Nghệ thuật trào phúng: dùng hình ảnh so sánh, ẩn dụ quen thuộc trong đời sống dân gian (chơi cờ, đánh bạc) để nói chuyện công danh, sự nghiệp.

-Tác dụng: làm nổi bật sự thất bại, lỡ vận, công danh không thành; giọng điệu châm biếm mà cay đắng, thể hiện tâm trạng bất lực của tác giả trước thời cuộc.

Câu 5.

Hai câu thơ thể hiện tâm trạng tự mỉa mai pha lẫn ngán ngẩm: tác giả vừa chán chính mình vì công danh không trọn vẹn, vừa xót xa khi nhìn lại quá khứ từng có học vị, danh vọng (“bia xanh, bảng vàng”) nhưng nay trở nên vô nghĩa trước thực tế cuộc đời.

Câu 6.

Từ nội dung, thông điệp bài thơ, giới trẻ ngày nay cần:

-Sống có lý tưởng, trách nhiệm, không buông xuôi hay sống “làng nhàng”.

-Rèn luyện tri thức, đạo đức, bản lĩnh, dám cống hiến bằng hành động cụ thể.

  • Biết phản tỉnh bản thân, phê phán thói sống hình thức, chạy theo danh hão, từ đó góp phần xây dựng quê hương, đất nước một cách thiết thực.




  1. Muong earn a living by farming and raising animals.
  2. They are in the habit of exercising after work.