Ngụy Thị Hà My

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Ngụy Thị Hà My
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

Văn bản “Hoa rừng” đã để lại ấn tượng sâu sắc bởi nội dung nhân văn và giàu ý nghĩa. Tác phẩm khắc họa hình ảnh những con người trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp tâm hồn cao quý. Nổi bật trong văn bản là nhân vật Phước – một con người lặng lẽ, âm thầm cống hiến mà không phô trương, không đòi hỏi sự ghi nhận. Qua những hiểu lầm ban đầu của các chiến sĩ dành cho Phước, tác giả đã làm nổi bật sự đối lập giữa vẻ ngoài giản dị, ít nói với tấm lòng trong sáng, giàu yêu thương và trách nhiệm. Hình ảnh “hoa rừng” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, tượng trưng cho những con người bình dị mà cao đẹp, lặng lẽ tỏa hương giữa núi rừng kháng chiến. Tác phẩm không chỉ ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của con người trong chiến tranh mà còn gửi gắm thông điệp về sự thấu hiểu, cảm thông trong cuộc sống. Qua đó, “Hoa rừng” giúp người đọc nhận ra rằng vẻ đẹp đích thực của con người không nằm ở lời nói hay hình thức bên ngoài mà ở tấm lòng và hành động âm thầm, bền bỉ.

Câu 2.

Trong văn bản “Hoa rừng”, do chưa hiểu rõ hoàn cảnh và con người Phước, các chiến sĩ đã có những suy nghĩ, thái độ thiếu tôn trọng, thậm chí là hiểu lầm đối với anh. Từ câu chuyện ấy, vấn đề thiếu cảm thông trong cách nhìn nhận những người xung quanh hiện lên như một điều đáng suy ngẫm trong đời sống hôm nay.

Thiếu cảm thông là khi con người vội vàng đánh giá người khác chỉ qua bề ngoài hoặc những biểu hiện nhất thời, mà không đặt mình vào hoàn cảnh của họ để thấu hiểu. Trong thực tế, không ít người dễ dàng phán xét người khác là chậm chạp, thờ ơ, kém cỏi, trong khi họ đang âm thầm chịu đựng khó khăn hay nỗ lực theo cách riêng của mình. Sự thiếu cảm thông ấy xuất phát từ lối sống ích kỷ, cái tôi quá lớn hoặc thói quen nhìn nhận vấn đề một cách phiến diện.

Hậu quả của việc thiếu cảm thông là vô cùng nghiêm trọng. Nó có thể làm tổn thương lòng tự trọng của người khác, gây ra những rạn nứt trong các mối quan hệ và khiến con người ngày càng xa cách nhau hơn. Đôi khi, chỉ vì một sự hiểu lầm mà những con người tốt đẹp bị phủ nhận, những giá trị nhân văn bị bỏ quên. Giống như trong “Hoa rừng”, nếu không có sự nhìn nhận lại, vẻ đẹp thầm lặng của Phước đã có thể mãi không được thấu hiểu.

mỗi người cần học cách sống chậm lại, biết lắng nghe và đặt mình vào vị trí của người khác. Cảm thông không chỉ giúp ta hiểu đúng về người xung quanh mà còn làm cho cuộc sống trở nên ấm áp, nhân văn hơn. Khi biết cảm thông và tôn trọng lẫn nhau, con người sẽ gắn kết hơn và cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp, giàu tình yêu thương.


Câu 1.

Phương thức biểu đạt chính của văn bản Hoa rừng là tự sự (kết hợp với miêu tả và biểu cảm).

Câu 2.
Nhân vật Phước hái hoa để chuẩn bị cho lễ kết nạp đoàn viên mới tổ chức vào tối hôm đó.

Câu 3.
Nhân vật Phước được khắc hoạ với nhiều phẩm chất đáng quý: dũng cảm, kiên cường, giàu tinh thần trách nhiệm, giàu đức hi sinh, đồng thời khiêm nhường, nhân hậu và giàu lòng vị tha.

Câu 4.
Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba.
Tác dụng: giúp người kể bao quát toàn bộ câu chuyện, miêu tả khách quan hành động, suy nghĩ của nhiều nhân vật, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp thầm lặng của nhân vật Phước.

Câu 5.
Từ văn bản, em rút ra bài học rằng khi nhìn nhận và đánh giá người khác, ta cần tránh vội vàng, phiến diện. Mỗi con người đều có những hi sinh thầm lặng và hoàn cảnh riêng mà ta chưa hiểu hết. Chỉ khi biết lắng nghe, quan sát và đặt mình vào vị trí của người khác, ta mới có thể đánh giá đúng đắn. Sự cảm thông và tôn trọng sẽ giúp con người gần nhau hơn và tránh những hối tiếc không đáng có.

Đoạn thơ “Chiều xuân ở thôn Trừng Mại” thể hiện một bức tranh làng quê yên bình, nơi con người sống hòa hợp với thiên nhiên. Giữa khung cảnh mưa xuân lất phất, mọi người vẫn hăng say lao động, người cày ruộng, kẻ gieo trồng, cây cối đâm chồi nảy lộc. Cuộc sống tuy giản dị nhưng tràn đầy niềm vui và ý nghĩa. Qua đó, ta thấy rằng sống hòa hợp với thiên nhiên giúp con người cảm nhận được vẻ đẹp của đất trời, nuôi dưỡng tâm hồn thanh thản và gắn bó hơn với quê hương. Thiên nhiên không chỉ là nguồn sống mà còn là người bạn đồng hành, mang lại sự bình yên và hạnh phúc cho mỗi người.

Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của dân tộc. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là “Bạn đến chơi nhà”. Bài thơ đã ca ngợi tình bạn chân thành, thắm thiết:

“Đã bấy lâu nay, bác tới nhà

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

Ao sâu nước cả, khôn chài cá,

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

Cải chửa ra cây, cà mới nụ,

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Đầu trò tiếp khách, trầu không có,

Bác đến chơi đây ta với ta!”

Cụm từ “đã bấy lâu nay” chỉ thời gian rất lâu rồi, người bạn của Nguyễn Khuyến mới đến chơi nhà. Điều đó khiến cho nhà thơ rất vui mừng, hạnh phúc. Cùng với cách xưng hô “bác” thể hiện mối quan hệ gần gũi, thân mật. Câu thơ đầu như một tiếng reo vui, một lời đón khách đầy cởi mở.

arrow_forward_ios Đọc thêm Pause 00:00 00:08 01:31 Mute

Dẫu vậy thì hoàn cảnh của nhà thơ lúc này cũng thật là éo le. Trẻ em thì đi vắng rồi, không có người để sai đi mua đồ tiếp đãi bạn được vì chợ ở quá xa. Tưởng rằng như vậy là chưa đủ, nhà thơ còn liệt kê một loạt các sự vật như “ao sâu - khôn chài cá”, “cải chửa ra cây, cà mới nụ, bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa”. Thậm chí miếng trầu - ngay cả thứ quan trọng nhất bởi có câu “miếng trầu là đầu câu chuyện” thì ở đây cũng không có. Sự thiếu thốn đã được đẩy lên đến tận cùng. Nhưng sự thiếu thốn đó không khiến cho thi sĩ buồn khổ mà còn đầy lạc quan, yêu đời. Bài thơ mang giọng điệu hóm hỉnh mà lạc quan, yêu đời.

Tuy là vật chất thiếu thốn, nhưng tình cảm bạn bè mới là thứ đáng quý nhất. Câu thơ cuối như một lời khẳng định cho tình bạn tri kỉ của Nguyễn Khuyến: “Bác đến chơi đây ta với ta”. Bà Huyện Thanh Quan cũng đã từng sử dụng cụm từ “ta với ta” trong bài Qua Đèo Ngang:

“Dừng chân đứng lại trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta”

Đại từ “ta” ở đây chỉ cùng một người, chỉ chủ thể trữ tình hay chính là tác giả. Lúc này Bà Huyện Thanh Quan đang chỉ có một mình nơi đèo Ngang hoang vu. Thời gian chiều tà gợi buồn và nỗi cô đơn, sợ hãi trước dòng thời gian trôi chảy. Không gian tuy rộng lớn nhưng chỉ toàn những vật vô tri, vô giác. Có xuất hiện hình ảnh đời sống con người nhưng hết sức thầm lặng, nhỏ bé. Âm thanh sự sống đơn điệu, gợi nỗi buồn sâu thẳm. Con người lẻ loi trước vũ trụ mênh mông. Nhớ về quê hương, thương xót cho hoàn cảnh của đất nước, trước thiên nhiên rộng lớn chỉ có mình cô độc.

Ngược lại, trong thơ Nguyễn Khuyến, đại từ “ta” thứ nhất chính là nhà thơ, còn đại từ “ta” thứ hai chỉ người bạn. Từ “với” cho thấy mối quan hệ song hành, gắn bó. “Ta với ta” đồng nghĩa với tôi với bác, chúng ta với nhau. Cuộc sống tuy nghèo khó, thiếu thốn nhưng có bạn lại thấy vui vẻ, hạnh phúc. Nhà thơ không hề cảm thấy cô đơn, buồn bã mà lại vô cùng vui vẻ, hạnh phúc. Tình bạn tri kỉ thật đáng ngưỡng mộ, cảm phục biết bao nhiêu.

Như vậy, “Bác đến chơi nhà” đã khắc họa một tình bạn chân thành thật đáng ngưỡng mộ. Bài thơ khá tiêu biểu cho phong cách thơ của Nguyễn Khuyến.

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ là một bức tranh xuân chiều yên ả, thanh bình, giàu sức sống và đầy màu sắc lao động. Bài thơ sử dụng các hình ảnh sống động như "mưa phùn xâm xẩm", "mía đang nảy ngọn", "khoai đã xanh cây" kết hợp với hình ảnh con người đang lao động "giục trâu cày", "gieo dưa", "xới đậu", tạo nên một không gian gắn bó giữa con người và thiên nhiên. 

Trong năm nay, anh trai của em sẽ tham gia kỳ thi Trung học Phổ thông Quốc gia, và như nhiều thí sinh khác, anh ấy đã quyết định thực hiện một chuyến thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám để cầu nguyện và tìm kiếm sự may mắn. Em đã có cơ hội đi cùng anh ấy và trải qua một chuyến tham quan đầy ấn tượng tại đây.

Văn Miếu Quốc Tử Giám nằm ở trung tâm của Hà Nội, nơi đông đúc và nhộn nhịp. Di tích này vẫn giữ được vẻ kiến trúc cổ kính, như một pháo đài cổ bị bỏ quên giữa lòng đô thị hiện đại. Khi gần đến, không khí trở nên mát lạnh và yên bình, như một hơi thở của thời gian. Cây cổ thụ cao vút rải rác trong kiến trúc và bao quanh ngoại vi tạo nên lớp tường vững chãi, tách biệt khỏi sự hối hả của thành phố.

Bước vào cổng chính của Văn Miếu, em chứng kiến một kiến trúc cổng lớn với ba cửa và hai tầng. Phần mái của tầng trên ghi chữ Hán Cổ có nghĩa là "Văn Miếu Môn." Rêu xanh mọc trên tường không làm giảm đi vẻ uy nghiêm của cổng, mà ngược lại tăng thêm sự trang nghiêm và tôn nghiêm. Bước qua cổng, em bắt gặp hồ Giám (hay hồ Văn), tạo nên không gian yên bình với cái gò rộng tên là Kim Châu. Phán Thủy Đường trên gò là nơi diễn ra bình luận văn chương của nho sĩ thời xưa. Phía Tây của hồ là khu vườn xanh tươi, nơi các sĩ tử dừng chân sau những buổi thảo luận văn chương.

Tiếp tục hành trình, em gặp cổng thứ hai, Đại Trung Môn, chỉ có một tầng nhưng trang trí đẹp mắt với nền gạch cao và mái che kiểu mái đình cổ. Đại Trung Môn nằm giữa không gian rộng lớn với các con đường lát gạch, hồ nước nhỏ, cây cỏ, tạo nên không khí trong lành và tĩnh mịch. 

Bước qua Đại Trung Môn, hành trình tiếp tục đến Khuê Văn Các, kiến trúc lầu vuông độc đáo với tám mái và những chi tiết trang trí tinh tế. Rời khỏi khu này, em và anh trai đến Vườn bia tiến sĩ, nơi có 82 bia tiến sĩ được đặt trên lưng rùa đá lớn. Các tấm bia đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới từ năm 2010. Anh trai em sờ đầu các cụ rùa để cầu may mắn, một hành động tâm linh thường thấy tại Văn Miếu. Em cũng thử nghiệm điều này, hy vọng mang lại may mắn cho kì thi sắp tới.

Rời khỏi Văn Miếu Quốc Tử Giám, em bắt gặp những tòa đình lớn như Đền Khải Thánh và Đại Thành Môn. Mặc dù chỉ là thoáng qua, nhưng vẻ đẹp cổ kính và trang nghiêm của những công trình này đã in sâu trong trí nhớ của em.

Trong dòng xe náo nhiệt trên phố, em không thể quên không gian mát lạnh và tĩnh lặng tại Văn Miếu. Chuyến tham quan này đã mang lại cho em những trải nghiệm tuyệt vời và khó quên.


Câu 1.
Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn (thất ngôn xen lục ngôn Đường luật).
Câu 2.
Các hình ảnh thiên nhiên trong bốn dòng đầu là: hoa lựu đỏ, hòe xanh, tiếng ve kêu, chợ cá làng ngư phủ tấp nập, ánh nắng chiều rực rỡ.
Câu 3.
Biện pháp đảo ngữ (đưa từ láy “lao xao”, “dắng dỏi” lên đầu câu) có tác dụng nhấn mạnh âm thanh sống động của cảnh vật. Nhờ đó, bức tranh mùa hè trở nên rộn ràng, vui tươi, đầy sức sống, thể hiện tâm hồn yêu đời của tác giả.
Câu 4.
Trong hai câu cuối, tác giả bộc lộ tấm lòng yêu nước, thương dân, luôn quan tâm đến cuộc sống của nhân dân, mong muốn cho dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Câu 5.
Chủ đề: Bài thơ thể hiện niềm vui, tình yêu tha thiết của Nguyễn Trãi đối với thiên nhiên, cuộc sống và con người lao động, cùng ước nguyện vì dân.
Căn cứ: Dựa vào các hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, âm thanh sống động và hai câu kết thể hiện tấm lòng yêu dân, thương nước.
Câu 6.
Qua niềm vui giản dị của Nguyễn Trãi trong bài “Cảnh ngày hè”, em học được bài học quý giá về cách sống tích cực và biết trân trọng những điều bình dị quanh mình. Dù cuộc sống có bận rộn, ta vẫn nên dừng lại để cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và niềm vui nhỏ bé mỗi ngày. Sống lạc quan giúp tâm hồn nhẹ nhõm, yêu đời và biết ơn cuộc sống hơn. Em sẽ cố gắng giữ cho mình tinh thần vui tươi, biết tận hưởng những điều giản đơn nhưng ý nghĩa trong cuộc sống.