NGUYỄN ĐỨC BẢO NAM
Giới thiệu về bản thân
a: Xét tứ giác ABOC có \(\hat{O B A} + \hat{O C A} = 9 0^{0} + 9 0^{0} = 18 0^{0}\)
nên ABOC là tứ giác nội tiếp đường tròn đường kính AO
Tâm I là trung điểm của AO
b: Xét ΔABO có I,M lần lượt là trung điểm của AO,AB
=>MI là đường trung bình của ΔABO
=>MI//BO
Xét ΔAMI và ΔABO có \(\frac{A M}{A B} = \frac{A I}{A O} \left(\right. = \frac{1}{2} \left.\right)\) và góc MAI chung
nên ΔAMI~ΔABO
=>\(\frac{A M}{A B} = \frac{A I}{A O}\)
=>\(A M \cdot A O = A B \cdot A I\)
c: Gọi H là trung điểm của AM
Xét ΔCMA có
G là trọng tâm
H là trung điểm của AM
Do đó: C,G,H thẳng hàng và \(C G = \frac{2}{3} C H\)
Ta có: CG+GH=CH
=>\(G H = H C - \frac{2}{3} H C = \frac{1}{3} H C\)
Ta có: H là trung điểm của AM
=>\(H A = H M = \frac{A M}{2} = \frac{B M}{2}\)
Ta có: HM+MB=HB
=>\(H B = \frac{1}{2} M B + M B = \frac{3}{2} M B\)
=>\(\frac{H M}{H B} = \frac{\frac{1}{2} M A}{\frac{3}{2} M A} = \frac{1}{3}\)
Xét ΔHCB có \(\frac{H M}{H B} = \frac{H G}{H C} \left(\right. = \frac{1}{3} \left.\right)\)
nên MG//BC
a: Xét (O) có
ΔACB nội tiếp
AB là đường kính
Do đó: ΔACB vuông tại C
Xét tứ giác BCED có \(\hat{B C E} + \hat{B D E} = 9 0^{0} + 9 0^{0} = 18 0^{0}\)
nên BCED là tứ giác nội tiếp
b: Xét ΔADE vuông tại D và ΔACB vuông tại C có
\(\hat{D A E}\) chung
Do đó: ΔADE~ΔACB
=>\(\frac{A D}{A C} = \frac{A E}{A B}\)
=>\(A E \cdot A C = A D \cdot A B = \frac{1}{4} A B \cdot A B = \frac{1}{4} A B^{2}\)
a: Ta có: \(\hat{C H M} + \hat{H C M} = 9 0^{0}\)(ΔHMC vuông tại M)
\(\hat{N B C} + \hat{N C B} = 9 0^{0}\)(ΔNBC vuông tại N)
Do đó: \(\hat{C H M} = \hat{N B C} = \hat{A B C}\)
b: Xét tứ giác BNHM có \(\hat{B N H} + \hat{B M H} = 9 0^{0} + 9 0^{0} = 18 0^{0}\)
nên BNHM là tứ giác nội tiếp
=>\(\hat{N B M} + \hat{N H M} = 18 0^{0}\)
=>\(\hat{A B C} + \hat{N H M} = 18 0^{0}\)
mà \(\hat{A B C} + \hat{A D C} = 18 0^{0}\)(ABCD là tứ giác nội tiếp)
nên \(\hat{N H M} = \hat{A D C}\)
mà \(\hat{N H M} = \hat{A H C}\)(hai góc đối đỉnh)
nên \(\hat{A H C} = \hat{A D C}\)
c: Xét tứ giác ANMC có \(\hat{A N C} = \hat{A M C} = 9 0^{0}\)
nên ANMC là tứ giác nội tiếp
=>\(\hat{M A C} = \hat{M N C}\)
a: Xét (I) có
ΔBFC nội tiếp
BC là đường kính
Do đó: ΔBFC vuông tại F
=>CF\(\bot\)AB tại F
Xét (I) có
ΔBEC nội tiếp
BC là đường kính
Do đó: ΔBEC vuông tại E
=>BE\(\bot\)AC tại E
Xét ΔABC có
CF,BE là các đường cao
CF cắt BE tại H
Do đó: H là trực tâm của ΔABC
=>AH\(\bot\)BC tại D
Xét tứ giác BFHD có \(\hat{B F H} + \hat{B D H} = 9 0^{0} + 9 0^{0} = 18 0^{0}\)
nên BFHD là tứ giác nội tiếp
b: Xét tứ giác ABDE có \(\hat{A E B} = \hat{A D B} = 9 0^{0}\)
nên ABDE là tứ giác nội tiếp
a) Do BD là đường cao của ΔABC (gt)
=> BD ⊥ AC
=> ∠BDA = ∠BDC = 90⁰
Do CE là đường cao của ΔABC(gt)
=> CE ⊥ AB
=> ∠CEB = ∠CEA = 90⁰
Tứ giác BCDE có:
∠BEC = ∠BDC = 90⁰
=> ∠BEC và ∠BDC cùng nhìn cạnh BC dưới một góc 90⁰
=> BCDE nội tiếp
b) Ta có:
∠CEA = 90⁰ (cmt)
=> ∠AEH = 90⁰
∠BDA = 90⁰ (cmt)
=> ∠ADH = 90⁰
Tứ giác ADHE có:
∠ADH = ∠AEH = 90⁰
=> ∠ADH + ∠AEH = 90⁰ + 90⁰ = 180⁰
Mà ∠ADH và ∠AEH là hai góc đối nhau
=> ADHE nội tiếp
a: Có 6 giá trị khác nhau
b: Bảng tần số:
Số ở hình quạt | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 |
Tần số | 5 | 6 | 8 | 7 | 7 | 7 |
c: Bảng tần số tương đối:
Số ở hình quạt | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 |
Tần số tương đối | 12,5% | 15% | 20% | 17,5% | 17,5% | 17,5% |
a: Có 6 giá trị khác nhau
b: Bảng tần số:
Số ở hình quạt | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 |
Tần số | 5 | 6 | 8 | 7 | 7 | 7 |
c: Bảng tần số tương đối:
Số ở hình quạt | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 |
Tần số tương đối | 12,5% | 15% | 20% | 17,5% | 17,5% | 17,5% |

b)[Ảnh]
a)Cỡ mẫu:
4 × 10 = 40 đôi giày
b) [Ảnh]
c)Cỡ giày được nhập về nhiều nhất là 40 41
Cỡ giày được nhập về ít nhất là 44
Câu 1.
Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Trong văn bản, sự việc xảy ra là: tên giặc xông vào túp lều, tra hỏi, đe dọa bà má Hậu Giang để dò la chỗ ở của du kích. Dù bị uy hiếp, bà má kiên quyết không khai báo, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ con em và nghĩa quân.
Câu 3.
Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc:
Đạp rơi liếp mành, nghênh ngang vào nhà.
Hét lớn, hăm dọa “khai mau, tao chém mất đầu”.
Đạp lên đầu bà má, kề gươm lạnh toát vào hông.
Nhận xét: Những hành động đó cho thấy bản chất tàn bạo, dã man, vô nhân tính của kẻ thù xâm lược.
Câu 4.
Hai dòng thơ:
“Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!”
Biện pháp tu từ: so sánh (so sánh con của má với rừng đước, rừng chàm).
→ Tác dụng:
-Trước hết, biện pháp tu từ giúp cho hai dòng thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, gợi hình và gợi cảm với người đọc.
-Đồng thời, cách diễn đạt làm nổi bật sức mạnh, tinh thần gan dạ, anh hùng của những người con kháng chiến, nhấn mạnh hình ảnh bà má trong bài thơ-tinh thần bất khuất, kiên cường, dũng cảm khi đương đầu với kẻ thù, cũng vừa là lòng yêu nước nồng nàn, sẵn sàng hy sinh thân mình vì Tổ quốc.
-Hơn nữa, phép so sánh ca ngợi tinh thần yêu nước nồng nàn sẵn sàng đổ máu vì cuộc đấu tranh bảo vệ giành lại mảnh đất quê hương.
Câu 5.
Hình tượng bà má Hậu Giang đã gợi cho em suy ngẫm sâu sắc về tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Dù là người mẹ già yếu đuối, bà má vẫn kiên cường, bất khuất trước quân thù, quyết không khai báo, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ con em và nghĩa quân. Qua đó, ta thấy được sức mạnh phi thường của những con người bình dị khi đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần yêu nước ấy chính là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt qua gian khổ, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.