Nguyễn Hải Đăng
Giới thiệu về bản thân
Vũ Thị Huyền Trang là một nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam. Bà đã thành công khi viết về đề tài gia đình. Tác phẩm của ông mang đến một thông điệp sâu sắc, một bài học triết lý sâu sắc gửi gắm đến người đọc. “Hoa đào nở trên vai” là một truyện ngắn đặc sắc của Vũ Thị Huyền Trang, thể hiện góc nhìn của bà về cảnh của một đứa trẻ mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Truyện có sức hấp dẫn bởi cách lựa chọn ngôi kể hợp lý, một nghệ thuật đặc sắc về ngôn ngữ và nghệ thuật xây dựng nhân vật. Qua đó, tác giả gửi gắm đến người đọc một thông điệp sâu sắc, ý nghĩa.
Truyện kể về cậu Lụm, đứa trẻ mồ côi cha mẹ từ năm sáu tuổi. Ông ngoại cậu vẫn nhớ vào buổi sáng trở về sau khi đi tránh lũ thấy nhà cửa tan hoang, bỗng ông nhìn thấy một đứa trẻ lấm đầy bùn đất và đang ôm vào thân cây rạ – đó chính là Lụm. Vì Lụm bị lạc cha mẹ sau cơn lũ nên vợ chồng Thảo đã đem Lụm về nuôi. Chồng đi xuất khẩu lao động để rồi gửi tiền về xây ngôi nhà mới cho Lụm đã nghĩ về cảnh mất mát. Khi Lụm đi chơi với ba người bạn về muộn, chị Thảo chỉ vờ mắng Lụm mấy câu chứ trong lòng rất vui vì Lụm đã biết về nhà. Mùa xuân đến, Lụm cũ cùng cho ông ngoại đi bắt cá. Về làm lém hết cả người, về được cô Thảo đun nước để tắm rửa. Thấy vết bớt đỏ trên vai Lụm, cô Thảo bảo đó là hoa đào đã nở trên vai Lụm. Qua đó, truyện ca ngợi vẻ đẹp của lòng nhân hậu và niềm tin vào sự sống.
Chủ đề của truyện bên cạnh đó còn được thể hiện ở hoàn cảnh cậu bé Lụm. Cậu có một số phận bất hạnh, là nạn nhân của lũ quét. Hình ảnh cậu “quần áo nhuốm màu bùn, tay còn ôm cố lấy thân cây” gợi cho chúng ta sự tàn khốc của thiên nhiên. Chính cơn lũ đã cướp đi của Lụm tất cả, từ nhà cửa đến cả bố mẹ, người mà thân yêu nhất của cậu. Chính những thứ này để lại cho cậu một nỗi đau rất lớn trong tinh thần, tâm hồn nhỏ bé của Lụm. Tuy nhiên, nhờ được gia đình ông ngoại cứu mạng, Lụm đã dần thay đổi. Sau dưới bàn tay chăm sóc tận tình của cô Thảo, anh Vĩnh, ông ngoại, tâm hồn cậu đã dần được chữa lành. Buổi đạp xe ngoại hay đi chơi với bạn rồi trở về với “bộ dạng lấm lem, miệng cười hở hàm răng sún chưa thay hết” là một khoảnh khắc rất quan trọng cho việc thay đổi của Lụm. Khi được đi chợ Tết với ông ngoại, cậu Lụm rất vui mừng, và vì “lội cả ngày dưới đồng bùn bết từ đỉnh đầu xuống chân” vì được cô Thảo hứa “Lụm bán được bao nhiêu tiền để dành tủ lại để đi chơi Tết”. Về đến nhà, khi cô Thảo tắm rửa sạch sẽ cho Lụm (Lụm bị co thì thì ngoại bế bớt đi trên vai Lụm và đã ví nó như “hoa đào trên vai”). Với cô Thảo, vết bớt đó không phải là một vết sẹo thông thường mà trông nó như một bông hoa đào. Hình ảnh hoa đào nở trên vai Lụm – một đứa trẻ đã trải qua lằn ranh sinh tử thì đã cho chúng ta thấy được thiên tai có thể lấy đi vật chất chứ không thể dập tắt được niềm tin của sự sống. Lụm còn tin rằng “ai có một bớt đỏ như hoa sau này nhất định sẽ hạnh phúc”.
Chủ đề của truyện bên cạnh đó còn được thể hiện qua gia đình cô Thảo, ông ngoại vì thế khi về nhà sau cơn bão đã rất ngạc nhiên khi thấy một đứa trẻ. Chính họ là những người đã làm, góp phần to lớn xóa đi nỗi đau tinh thần của Lụm. Khi thấy Lụm lấm lem bùn đất sau cơn lũ, ông ngoại đã quyết định nhận nuôi Lụm. Cả gia đình đều cố gắng hết sức để giúp Lụm thoát khỏi kí ức đau buồn. Anh Vĩnh đi xuất khẩu lao động 2 năm, gửi tiền về để xây một ngôi nhà nền cao, móng chắc vì anh “lo không thể để thằng nhỏ sống tạm bợ thế này được, sẽ chỉ càng khiến nó nghĩ về cảnh mất mát”. Khi rảnh rỗi, ông ngoại thường lái Lụm đi xe đạp đi chơi làng trên xóm dưới để vì sợ Lụm “ngồi không hay nghĩ ngợi vẩn vơ”. Dù Lụm có đi chơi về muộn thế nào thì nhưng thấy nụ cười trên môi Lụm thì cô Thảo chỉ vờ mắng mấy câu chứ trong lòng thấy rất vui. Ông ngoại khi Lụm cứ lẻo đẻo xin ông cho đi bắt cá, ông cũng đồng ý và còn hứa “ngày mai cứ bắt đầu năm giờ tớ được ngoại đi chợ Tết bên sông ngày hai ba mươi tháng Chạp”. Chính sự chăm sóc tận tình của gia đình cô Thảo đã giúp Lụm tìm lại sự sống, vơi đi nỗi đau của quá khứ, chính tình thương và lòng nhân hậu của người đó đã giúp cho “hoa đào nở trên vai” Lụm.
Tác phẩm không chỉ đặc sắc ở phần nội dung mà còn đặc sắc cả ở phần nghệ thuật. Nhan đề “Hoa đào nở trên vai” không đơn giản là vết bớt với hình bông hoa mà là sự hồi sinh, tìm lại sự sống sau khi trải qua nghịch cảnh, tình huống truyện rất độc đáo và đạt cao trào khi cô Thảo ví vết bớt đỏ trên vai Lụm như hoa đào nở trên vai. Cốt truyện đơn tuyến, cuốn hút người đọc ở mạch cảm xúc chân thật, gần gũi với tâm lý trẻ thơ. Ngôi kể thứ ba giúp cho câu chuyện thêm khách quan, chân thực, giúp người đọc hiểu được nỗi mất mát của bé Lụm. Ngôn ngữ giàu hình ảnh và sức gợi. Tác giả đã khắc họa nhân vật qua hành động, lời nói, suy nghĩ. Chi tiết đặc sắc nhất là chi tiết bớt đỏ trên vai Lụm được ví như hoa đào. Vết bớt trên vai Lụm như một dấu vết của một đứa trẻ bước ra từ bùn lầy. Nhưng được cô Thảo ví, nó lại là một bông hoa đang nở. Đó chính là sự hồi sinh của Lụm, từ một đứa trẻ qua lằn ranh sinh tử, cậu đã vượt qua được sự mất mát đó.
Tác phẩm là một bài học đạo đức về tình người và lòng vị tha trong nghịch cảnh bão lũ tan hoang. Tác giả khẳng định sự tử tế có thể xóa nhòa khoảng cách giữa những người xa lạ, biến đau thương thành hy vọng. Tác phẩm gửi gắm cho người đọc bức thông điệp nhân văn: chỉ cần nhìn cuộc đời bằng đôi mắt yêu thương, mọi mảnh đời bất hạnh đều có thể nở hoa.
Tóm lại, truyện ngắn “Hoa đào nở trên vai” của Vũ Thị Huyền Trang là một tác phẩm giàu giá trị nhân văn và nghệ thuật sâu sắc. Bằng ngôi kể khách quan cùng chi tiết nghệ thuật độc đáo về vết bớt đóa hoa đào, nhà văn không chỉ tái hiện chân thực nỗi đau của thiên tai mà trên hết còn ngợi ca sức sống hồi sinh kỳ diệu của con người. Tác phẩm đã để lại trong lòng độc giả một bài học sâu sắc về tình người, lòng tử tế và tình yêu thương trong nghịch cảnh – thứ ánh sáng ấm áp có thể sưởi ấm và làm “nở hoa” cả những mảnh đời bất hạnh nhất.
Đoạn thơ trên đã chạm đến người đọc bằng những suy nghĩ vô cùng sâu sắc và xúc động về lý tưởng sống của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Tác giả đã thẳng thắn đối diện với tâm lý con người: "tuổi hai mươi" – cái tuổi đẹp nhất của đời người, tràn đầy ước mơ và hoài bão, làm sao có thể không nuối tiếc? Thế nhưng, vượt lên trên tình cảm cá nhân vị kỷ, những người chiến sĩ ấy đã lựa chọn "đi không tiếc đời mình". Câu hỏi tu từ kết thúc đoạn thơ: "Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?" vang lên như một lời tự vấn, một lời thức tỉnh mạnh mẽ về trách nhiệm của cá nhân đối với vận mệnh đất nước. Chính sự hy sinh tự nguyện, cao cả và đầy lý tưởng ấy đã dệt nên độc lập, tự do cho dân tộc, đồng thời để lại bài học sâu sắc cho thế hệ hôm nay về lòng yêu nước và trách nhiệm công dân.
Thành phần biệt lập phụ: (những tuổi hai mươi làm sao ko tiếc)
Tác dụng: Diễn tả tâm trạng tiếc nuối tuổi thanh xuân ,làm nổi bật lý tưởng cao đẹp của người lính