Lê Minh Hiếu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Minh Hiếu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

A,

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), đất nước Việt Nam đã thống nhất về mặt lãnh thổ từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Tuy nhiên, về mặt Nhà nước, hai miền vẫn tồn tại hai hình thức tổ chức Nhà nước khác nhau:

  Miền Bắc: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (chính quyền xã hội chủ nghĩa).

  Miền Nam: Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Thực tế này tạo ra tình trạng hai chính quyền song song, chưa có một bộ máy Nhà nước thống nhất chung cho toàn quốc.

Các lý do chính cần phải hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước

1.  Đáp ứng nguyện vọng tha thiết của nhân dân cả nước
Nhân dân hai miền Nam – Bắc đều mong muốn “sum họp trong một đại gia đình”, có một Chính phủ thống nhất, một Quốc hội chung đại diện cho quyền lợi và ý chí của toàn dân tộc. Tình trạng chia cắt về Nhà nước trái với tình cảm thiêng liêng và ý chí đoàn kết dân tộc “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”.

2.  Thể chế hóa thống nhất lãnh thổ thành thống nhất về Nhà nước
Thống nhất lãnh thổ chỉ là bước đầu. Việc thống nhất về mặt Nhà nước là bước tiếp theo tất yếu và khách quan, giúp chính thức hóa sự thống nhất Việt Nam trên bình diện pháp lý và chính trị. Không thống nhất Nhà nước thì sự thống nhất lãnh thổ chưa hoàn chỉnh và vững chắc.

3.  Tạo cơ sở pháp lý để thống nhất toàn diện trên các lĩnh vực
Một Nhà nước thống nhất sẽ tạo điều kiện để:

  Xây dựng và thực thi chính sách chung về kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội trên phạm vi cả nước.

  Hoàn thành thống nhất về chính trị, tư tưởng, văn hóa.

  Phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

4.  Tạo điều kiện chính trị cơ bản để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Đảng Lao động Việt Nam (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam) xác định: Sau khi giải phóng miền Nam, nhiệm vụ cách mạng là đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Muốn làm được điều đó, phải có một Nhà nước thống nhất để lãnh đạo, quản lý và huy động nguồn lực chung. Thống nhất Nhà nước sẽ tạo sức mạnh mới, thuận lợi mới cho phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng.

5.  Củng cố vị thế quốc tế và bảo vệ Tổ quốc
Một Việt Nam thống nhất về Nhà nước sẽ nâng cao vị thế trên trường quốc tế, mở rộng quan hệ ngoại giao, đồng thời tăng cường khả năng đối phó với các thế lực thù địch và tình hình an ninh phức tạp (biên giới Tây Nam và phía Bắc lúc bấy giờ).

B,

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), đất nước Việt Nam đã thống nhất về mặt lãnh thổ, nhưng vẫn tồn tại hai Nhà nước:

  Miền Bắc: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

  Miền Nam: Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Vì vậy, việc hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước trở thành nhiệm vụ cấp thiết và tất yếu.

1. Chủ trương của Đảng

  Tháng 9/1975: Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đề ra nhiệm vụ:
“Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước”.
Hội nghị khẳng định đây là nguyện vọng tha thiết của nhân dân cả nước và là quy luật khách quan của cách mạng Việt Nam.

2. Các bước thực hiện chính

a. Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất đất nước (15 – 21/11/1975)

  Tổ chức tại Sài Gòn (TP. Hồ Chí Minh).

  Có sự tham gia của đại biểu hai miền Bắc – Nam.

  Hội nghị nhất trí: Tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước vào năm 1976.

b. Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung (25/4/1976)

  Đây là cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của cả nước thống nhất.

  Hơn 23 triệu cử tri tham gia bầu cử (tỷ lệ đi bầu đạt 98,77%).

  Kết quả: Bầu được 492 đại biểu Quốc hội (không nơi nào phải bầu lại).

  Ý nghĩa: Thể hiện quyền làm chủ của nhân dân, ý chí đoàn kết Bắc – Nam sum họp một nhà.

c. Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI (24/6 – 3/7/1976)

  Quốc hội họp tại Hà Nội.

  Đây là kỳ họp mang tính lịch sử, chính thức hoàn thành việc thống nhất đất nước về mặt Nhà nước.
Các quyết định quan trọng nhất:

  Đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ ngày 2/7/1976).

  Thủ đô: Hà Nội.

  Quốc kỳ: Nền đỏ, ngôi sao vàng năm cánh.

  Quốc huy và Quốc ca được chính thức xác định.

  Đổi tên Sài Gòn – Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh.

  Bầu các cơ quan lãnh đạo Nhà nước:

  Chủ tịch nước: Tôn Đức Thắng

  Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Trường Chinh

  Thủ tướng Chính phủ: Phạm Văn Đồng

3. Kết quả và ý nghĩa

  Hoàn thành việc thống nhất đất nước về mọi mặt: lãnh thổ, Nhà nước, chính trị, kinh tế, văn hóa.

  Tạo nền tảng pháp lý vững chắc để cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.

  Thỏa mãn nguyện vọng “sum họp một nhà” của toàn dân tộc.

  Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế như một quốc gia độc lập, thống nhất, có chủ quyền hoàn chỉnh.

A,

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), đất nước Việt Nam đã thống nhất về mặt lãnh thổ từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Tuy nhiên, về mặt Nhà nước, hai miền vẫn tồn tại hai hình thức tổ chức Nhà nước khác nhau:

  Miền Bắc: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (chính quyền xã hội chủ nghĩa).

  Miền Nam: Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Thực tế này tạo ra tình trạng hai chính quyền song song, chưa có một bộ máy Nhà nước thống nhất chung cho toàn quốc.

Các lý do chính cần phải hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước

1.  Đáp ứng nguyện vọng tha thiết của nhân dân cả nước
Nhân dân hai miền Nam – Bắc đều mong muốn “sum họp trong một đại gia đình”, có một Chính phủ thống nhất, một Quốc hội chung đại diện cho quyền lợi và ý chí của toàn dân tộc. Tình trạng chia cắt về Nhà nước trái với tình cảm thiêng liêng và ý chí đoàn kết dân tộc “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”.

2.  Thể chế hóa thống nhất lãnh thổ thành thống nhất về Nhà nước
Thống nhất lãnh thổ chỉ là bước đầu. Việc thống nhất về mặt Nhà nước là bước tiếp theo tất yếu và khách quan, giúp chính thức hóa sự thống nhất Việt Nam trên bình diện pháp lý và chính trị. Không thống nhất Nhà nước thì sự thống nhất lãnh thổ chưa hoàn chỉnh và vững chắc.

3.  Tạo cơ sở pháp lý để thống nhất toàn diện trên các lĩnh vực
Một Nhà nước thống nhất sẽ tạo điều kiện để:

  Xây dựng và thực thi chính sách chung về kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội trên phạm vi cả nước.

  Hoàn thành thống nhất về chính trị, tư tưởng, văn hóa.

  Phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

4.  Tạo điều kiện chính trị cơ bản để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Đảng Lao động Việt Nam (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam) xác định: Sau khi giải phóng miền Nam, nhiệm vụ cách mạng là đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Muốn làm được điều đó, phải có một Nhà nước thống nhất để lãnh đạo, quản lý và huy động nguồn lực chung. Thống nhất Nhà nước sẽ tạo sức mạnh mới, thuận lợi mới cho phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng.

5.  Củng cố vị thế quốc tế và bảo vệ Tổ quốc
Một Việt Nam thống nhất về Nhà nước sẽ nâng cao vị thế trên trường quốc tế, mở rộng quan hệ ngoại giao, đồng thời tăng cường khả năng đối phó với các thế lực thù địch và tình hình an ninh phức tạp (biên giới Tây Nam và phía Bắc lúc bấy giờ).

B,

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), đất nước Việt Nam đã thống nhất về mặt lãnh thổ, nhưng vẫn tồn tại hai Nhà nước:

  Miền Bắc: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

  Miền Nam: Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Vì vậy, việc hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước trở thành nhiệm vụ cấp thiết và tất yếu.

1. Chủ trương của Đảng

  Tháng 9/1975: Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đề ra nhiệm vụ:
“Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước”.
Hội nghị khẳng định đây là nguyện vọng tha thiết của nhân dân cả nước và là quy luật khách quan của cách mạng Việt Nam.

2. Các bước thực hiện chính

a. Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất đất nước (15 – 21/11/1975)

  Tổ chức tại Sài Gòn (TP. Hồ Chí Minh).

  Có sự tham gia của đại biểu hai miền Bắc – Nam.

  Hội nghị nhất trí: Tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước vào năm 1976.

b. Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung (25/4/1976)

  Đây là cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của cả nước thống nhất.

  Hơn 23 triệu cử tri tham gia bầu cử (tỷ lệ đi bầu đạt 98,77%).

  Kết quả: Bầu được 492 đại biểu Quốc hội (không nơi nào phải bầu lại).

  Ý nghĩa: Thể hiện quyền làm chủ của nhân dân, ý chí đoàn kết Bắc – Nam sum họp một nhà.

c. Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI (24/6 – 3/7/1976)

  Quốc hội họp tại Hà Nội.

  Đây là kỳ họp mang tính lịch sử, chính thức hoàn thành việc thống nhất đất nước về mặt Nhà nước.
Các quyết định quan trọng nhất:

  Đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ ngày 2/7/1976).

  Thủ đô: Hà Nội.

  Quốc kỳ: Nền đỏ, ngôi sao vàng năm cánh.

  Quốc huy và Quốc ca được chính thức xác định.

  Đổi tên Sài Gòn – Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh.

  Bầu các cơ quan lãnh đạo Nhà nước:

  Chủ tịch nước: Tôn Đức Thắng

  Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Trường Chinh

  Thủ tướng Chính phủ: Phạm Văn Đồng

3. Kết quả và ý nghĩa

  Hoàn thành việc thống nhất đất nước về mọi mặt: lãnh thổ, Nhà nước, chính trị, kinh tế, văn hóa.

  Tạo nền tảng pháp lý vững chắc để cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.

  Thỏa mãn nguyện vọng “sum họp một nhà” của toàn dân tộc.

  Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế như một quốc gia độc lập, thống nhất, có chủ quyền hoàn chỉnh.


Câu 1.

Đoạn thơ là lời than khóc của cha mẹ Thuý Kiều khi kể lại bi kịch của con gái với Kim Trọng, qua đó thể hiện sâu sắc giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của Truyện Kiều. Về nội dung, đoạn trích làm nổi bật số phận đau khổ, bạc mệnh của Thuý Kiều – người con hiếu thảo, vì chữ hiếu mà chấp nhận bán mình chuộc cha, hy sinh tình yêu và hạnh phúc riêng. Những lời kể chan chứa nước mắt cho thấy nỗi day dứt khôn nguôi của gia đình, đồng thời bộc lộ tấm lòng thuỷ chung, nặng nghĩa của Kiều với Kim Trọng: dù ra đi trong bất đắc dĩ, nàng vẫn “dặn ba bốn lần”, nhờ Thuý Vân nối duyên để giữ trọn lời thề. Về nghệ thuật, Nguyễn Du sử dụng ngôn ngữ giàu cảm xúc, giọng điệu thống thiết, kết hợp các hình ảnh ước lệ như “phận mỏng như tờ”, “tóc tơ” cùng các thành ngữ dân gian quen thuộc, làm tăng sức gợi cảm và chiều sâu bi kịch. Lối kể xen lời thoại giúp cảm xúc trở nên chân thực, lay động, góp phần khắc họa vẻ đẹp nhân cách và tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả.





Câu 2.

Trong thời đại số, khi công nghệ phát triển mạnh mẽ và chi phối hầu hết các mặt của đời sống, việc nuôi dưỡng tâm hồn con người trở thành một nhu cầu cấp thiết. Thế giới số mang đến nhiều tiện ích, nhưng đồng thời cũng dễ khiến con người rơi vào trạng thái vô cảm, cô đơn và lệch lạc về giá trị nếu không biết cân bằng. Vì vậy, cần có những giải pháp thiết thực để giữ gìn và bồi đắp đời sống tinh thần.


Trước hết, con người cần hình thành ý thức sử dụng công nghệ một cách lành mạnh. Việc kiểm soát thời gian dùng mạng xã hội, chọn lọc thông tin tích cực sẽ giúp mỗi người tránh bị cuốn vào những nội dung độc hại, tiêu cực, từ đó bảo vệ sự trong sáng của tâm hồn. Bên cạnh đó, đọc sách, đặc biệt là sách văn học và sách về giá trị sống, là con đường hiệu quả để nuôi dưỡng cảm xúc, lòng nhân ái và khả năng đồng cảm – những phẩm chất dễ bị mai một trong đời sống số hóa.


Ngoài ra, con người cần tăng cường các mối quan hệ trực tiếp ngoài đời thực. Sự quan tâm, chia sẻ giữa người với người, những cuộc trò chuyện chân thành trong gia đình, bạn bè hay cộng đồng sẽ giúp con người cảm nhận được yêu thương và gắn kết, điều mà thế giới ảo không thể thay thế hoàn toàn. Đồng thời, việc tham gia các hoạt động nghệ thuật, thể thao, thiện nguyện cũng là cách nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người sống tích cực, có trách nhiệm với bản thân và xã hội.


Cuối cùng, mỗi người cần không ngừng rèn luyện đời sống nội tâm, biết lắng nghe chính mình, suy ngẫm về ý nghĩa cuộc sống và hướng tới những giá trị chân – thiện – mỹ. Khi biết cân bằng giữa công nghệ và đời sống tinh thần, con người không chỉ làm chủ thời đại số mà còn giữ được một tâm hồn đẹp, nhân văn và giàu yêu thương.


Câu 1.

Đoạn trích Kim Trọng tìm Kiều kể về việc Kim Trọng sau nửa năm trở về quê cũ, tìm đến nhà Thuý Kiều thì chỉ thấy cảnh hoang tàn; sau đó hỏi thăm mới biết Kiều đã bán mình chuộc cha, gia đình sa sút. Kim Trọng vô cùng đau đớn, xót xa và quyết tâm lên đường tìm Kiều.




Câu 2.

Một số hình ảnh thơ tả thực trong đoạn trích:

“Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa”, “song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời”

“Nhà tranh, vách đất tả tơi”, “lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa”
→ Những hình ảnh này tái hiện chân thực cảnh hoang phế, tiêu điều của ngôi nhà và cuộc sống sa sút của gia đình Kiều.





Câu 3.

Khi chứng kiến khung cảnh nhà Thuý Kiều sau nửa năm gặp lại, Kim Trọng mang tâm trạng bàng hoàng, xót xa và đau đớn. Cảnh vật hoang tàn, vắng lặng gợi lên sự đổi thay nghiệt ngã của số phận con người. Nỗi cô đơn, mất mát và lo lắng cho Kiều khiến chàng “rụng rời”, “ngơ ngẩn”, thể hiện cú sốc tinh thần lớn và nỗi thương nhớ sâu sắc.




Câu 4.

Biện pháp nghệ thuật: Điệp cấu trúc kết hợp với liệt kê và hoán dụ.Phân tích hiệu quả:
Điệp từ “càng” nhấn mạnh mức độ tăng tiến của cảm xúc.Hoán dụ “gan”, “ruột” gợi nỗi đau từ sâu thẳm nội tâm.
→ Câu thơ diễn tả sinh động nỗi đau đớn, xót xa đến tột cùng của Kim Trọng khi chứng kiến hoàn cảnh của Kiều, làm nổi bật tình cảm sâu nặng của chàng.





Câu 5.

Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều là tình yêu chân thành, thuỷ chung và sâu sắc. Chàng đau đớn trước bi kịch của Kiều, day dứt vì lời thề chưa trọn và quyết tâm tìm nàng cho bằng được.

Một số câu thơ tiêu biểu:

“Nỗi nàng tai nạn đã đầy, / Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.”

“Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!”

“Dấn mình trong áng can qua, / Vào sinh ra tử, hoạ là thấy nhau.”
→ Những câu thơ này thể hiện rõ tấm lòng son sắt, sự hy sinh và quyết tâm vượt mọi gian nan của Kim Trọng vì tình yêu với Thuý Kiều.




Câu 1.


Nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích Truyện Kiều hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho số phận bạc mệnh của người phụ nữ tài sắc trong xã hội phong kiến. Nàng từng là ca nhi nổi danh, “tài sắc một thì”, được nhiều người mến mộ, tìm đến. Thế nhưng, cuộc đời Đạm Tiên lại ngắn ngủi và cô độc, “nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương”, chết khi tuổi đời còn rất trẻ. Sau khi mất, nàng không người thân thích, mồ mả hoang lạnh, “hương khói vắng tanh”, không ai chăm nom, thăm viếng. Qua số phận ấy, Nguyễn Du bày tỏ niềm xót thương sâu sắc cho kiếp hồng nhan bạc phận, đồng thời tố cáo xã hội phong kiến bất công, nơi con người chỉ được tôn vinh khi còn nhan sắc, danh tiếng, nhưng bị lãng quên khi rơi vào bất hạnh. Nhân vật Đạm Tiên không chỉ là một số phận riêng lẻ mà còn là lời cảnh tỉnh về sự mong manh của kiếp người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội xưa.





Câu 2.


Trong thời đại công nghệ số, mạng xã hội đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống của học sinh. Tuy nhiên, việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều và thiếu kiểm soát đang khiến không ít học sinh sao nhãng học tập, sống thiếu trách nhiệm với bản thân và những người xung quanh. Vì vậy, sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả là vấn đề mỗi học sinh cần nghiêm túc suy nghĩ.


Trước hết, cần hiểu rằng mạng xã hội không hoàn toàn xấu. Nếu biết sử dụng đúng cách, mạng xã hội giúp học sinh mở rộng kiến thức, cập nhật thông tin nhanh chóng, học tập trực tuyến hiệu quả và kết nối, chia sẻ với bạn bè, thầy cô. Tuy nhiên, lạm dụng mạng xã hội sẽ gây ra nhiều hậu quả tiêu cực như nghiện điện thoại, giảm khả năng tập trung, sa sút học tập, sống ảo, chạy theo lượt thích và dần thờ ơ với trách nhiệm học tập, gia đình.


Để sử dụng mạng xã hội lành mạnh và hiệu quả, trước hết mỗi học sinh cần biết kiểm soát thời gian sử dụng, tránh truy cập mạng xã hội trong giờ học và lúc làm bài. Bên cạnh đó, cần lựa chọn nội dung tích cực, theo dõi những trang mang tính giáo dục, tránh xa các thông tin độc hại, sai lệch. Quan trọng hơn, học sinh phải xác định rõ mục đích sử dụng, coi mạng xã hội là công cụ hỗ trợ học tập chứ không phải nơi để tiêu khiển vô độ. Ngoài ra, việc tăng cường giao tiếp trực tiếp, tham gia các hoạt động thể thao, đọc sách và sinh hoạt tập thể cũng giúp cân bằng đời sống tinh thần.


Tóm lại, mạng xã hội là con dao hai lưỡi. Sử dụng mạng xã hội lành mạnh và hiệu quả không chỉ giúp học sinh học tập tốt hơn mà còn hình thành lối sống tích cực, có trách nhiệm với bản thân và xã hội. Mỗi học sinh cần tỉnh táo làm chủ công nghệ, thay vì để công nghệ chi phối cuộc sống của mình.



Câu 1.



Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.





Câu 2.



Hai dòng thơ trên sử dụng lời thoại trực tiếp của nhân vật





Câu 3.



Hệ thống từ láy trong văn bản như: sè sè, dầu dầu, vắng tanh, lờ mờ, dầm dầm, đầm đầm được sử dụng rất tinh tế. Các từ láy này có tác dụng gợi hình, gợi cảm, khắc họa rõ khung cảnh hoang vắng, hiu quạnh của nấm mồ Đạm Tiên, đồng thời diễn tả sâu sắc tâm trạng xót xa, thương cảm của Thúy Kiều. Qua đó, Nguyễn Du làm nổi bật không khí buồn thương và số phận bạc mệnh của người phụ nữ trong xã hội xưa.





Câu 4.



Trước hoàn cảnh cô đơn, bạc mệnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều mang tâm trạng xót xa, đau đớn, thương cảm sâu sắc, thể hiện qua những giọt nước mắt và lời than thân cho “phận đàn bà”. Điều này cho thấy Thúy Kiều là người con gái đa sầu đa cảm, giàu lòng nhân ái, biết cảm thông với nỗi đau của người khác và có ý thức sâu sắc về số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến.





Câu 5.



Từ nội dung văn bản, em rút ra bài học cần biết trân trọng con người, cảm thông với những số phận bất hạnh và sống nhân ái, yêu thương hơn. Bởi lẽ, cuộc đời con người rất mong manh, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ. Đồng thời, mỗi người cần sống có ý nghĩa, biết giữ gìn nhân phẩm và giá trị của bản thân để không bị vùi dập bởi những bất công của cuộc đời.



Câu 1. Nhân vật Mai trong đoạn trích Người bán mai vàng là hình ảnh tiêu biểu cho người lao động nghèo nhưng giàu tình thương và có trách nhiệm với gia đình. Mai lớn lên trong hoàn cảnh thiếu thốn, sống gắn bó với vườn mai – tài sản quý giá duy nhất của hai cha con. Anh là người nhân hậu, giàu lòng trắc ẩn khi cưu mang Lan – cô bé ăn xin mồ côi mẹ – và sau này yêu thương, cùng cô xây dựng một gia đình đầm ấm. Trước những biến động khắc nghiệt của thiên nhiên và cuộc sống, Mai không buông xuôi mà luôn trăn trở tìm cách vươn lên. Anh dám suy nghĩ khác, tìm hiểu cách làm ăn của những người trồng hoa để mong đổi thay cuộc sống. Tuy còn tự ti, thiếu vốn và rơi vào bế tắc, Mai vẫn là người con hiếu thảo, biết thương cha già và vợ con. Chính tình cảm gia đình sâu nặng đã giúp Mai có thêm nghị lực, từng bước “bắt được nhịp của cuộc sống mới”, thể hiện vẻ đẹp bền bỉ và đáng trân trọng của con người lao động.





Câu 2.

 Trong xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ đang xuất hiện lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” những thứ không thuộc về mình. Đây là hiện tượng đáng suy ngẫm, bởi nó không chỉ phản ánh nhận thức lệch lạc về giá trị bản thân mà còn để lại nhiều hệ lụy tiêu cực cho cá nhân và xã hội.


Khoe khoang “ảo” là việc cố tình xây dựng hình ảnh hào nhoáng trên mạng xã hội bằng cách mượn đồ đắt tiền, dùng ảnh chỉnh sửa quá mức, nói quá về thành tích, cuộc sống hay mối quan hệ của mình. Không ít bạn trẻ chạy theo “lượt thích”, “lượt theo dõi” để cảm thấy mình được công nhận, từ đó đánh đồng giá trị con người với sự hào nhoáng bề ngoài. Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ tâm lí thích thể hiện, sự tự ti, áp lực so sánh và ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội.


Lối sống phô trương “ảo” gây ra nhiều hậu quả đáng lo ngại. Trước hết, nó khiến con người sống không thật với chính mình, dần đánh mất bản sắc và sự tự trọng. Việc chạy theo hình ảnh giả tạo còn dễ dẫn đến lối sống thực dụng, tiêu xài vượt khả năng, thậm chí gian dối để duy trì “vỏ bọc” hào nhoáng. Về lâu dài, điều đó làm suy giảm các giá trị đạo đức, khiến mối quan hệ xã hội trở nên hời hợt, thiếu niềm tin.


Trước thực trạng ấy, mỗi bạn trẻ cần học cách sống chân thành, biết trân trọng giá trị thật của bản thân. Thay vì khoe khoang những thứ không thuộc về mình, hãy tập trung rèn luyện năng lực, nhân cách và cống hiến bằng chính khả năng thực sự. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần định hướng lối sống lành mạnh, giúp giới trẻ hiểu rằng giá trị con người không nằm ở vẻ ngoài hào nhoáng mà ở chiều sâu nhân cách và những nỗ lực bền bỉ trong cuộc sống.


Câu 1.

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba

Câu 2.

Văn bản kể về hai cha con ông già mù sống bằng nghề trồng mai vàng dưới chân núi Ngũ Tây. Ông già dành cả đời gắn bó, nâng niu vườn mai như máu thịt của mình. Mai – con trai ông – lớn lên trong nghèo khó nhưng giàu tình thương, cưu mang cô bé ăn xin tên Lan rồi nên duyên vợ chồng. Cuộc sống gia đình họ liên tiếp gặp thiên tai, thất bát, thiếu vốn làm ăn. Trước hoàn cảnh đó, ông già Mai chấp nhận cho con cưa nửa vườn mai để lấy vốn mưu sinh. Sự hi sinh thầm lặng ấy giúp gia đình Mai tìm được hướng đi mới và tiếp tục sống nhờ những cánh mai vàng.




Câu 3.

Ông già Mai là người yêu nghề, yêu mai tha thiết, sống bằng cảm nhận tinh tế và tâm hồn giàu cảm xúc. Ông nhân hậu, vị tha, coi trọng chữ “Tâm”, luôn nghĩ cho con cháu. Đặc biệt, ông sẵn sàng hi sinh điều quý giá nhất của đời mình – vườn mai – để con có tương lai, thể hiện tình yêu thương sâu nặng và cao cả.




Câu 4.

Em thích nhất chi tiết ông già Mai lặng lẽ dắt cháu đi thật xa để không nghe tiếng cưa cắt mai. Vì chi tiết này thể hiện nỗi đau thầm lặng của người cha khi phải chia lìa máu thịt tinh thần của mình, đồng thời làm nổi bật sự hi sinh âm thầm, sâu sắc và rất nhân văn.




Câu 5.

Tình cảm gia đình là điểm tựa tinh thần lớn lao giúp nhân vật Mai vượt qua nghèo khó và bế tắc. Nhờ tình yêu thương của cha, vợ và con, Mai có thêm động lực thay đổi cách nghĩ, tìm hướng làm ăn mới và vươn lên trong cuộc sống. Chính tình cảm gia đình đã tiếp thêm sức mạnh để Mai không buông xuôi trước số phận.