Đỗ Bảo An
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Ngôi thứ nhất. Câu 2: Hai chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật Ga-ro-nê là: – Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng. – Lưng khom khom và đầu rụt ngang vai. Câu 3: – Những chi tiết thể hiện tình cảm của nhân vật “tôi” với Ga-ro-nê là: + Người đã cho cậu bé miền Nam cái tem thư hôm trước là người bạn mà tôi thích hơn hết. + Trong ngần ấy người bạn, theo ý tôi, thì Ga-ro-nê là người tốt hơn cả. + Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không ngại liều mình để cứu một người, cậu sẽ đem hết sức mình để che chở cho bạn: cứ nhìn vào đôi mắt của Ga-ro-nê thì thấy rõ điều đó! – Nhân vật “tôi” rất yêu quý, tự hào, tin tưởng và quan tâm đến Ga-ro-nê. Câu 4: – Mặc dù cả lớp đều yêu quý cậu nhưng vẫn có một số người không có thiện cảm với Ga-ro-nê vì Ga-ro-nê chống lại những hành động độc ác của những đứa độc ác: mỗi khi có một đứa lớn định trêu ghẹo hay hà hiếp một đứa bé, mà đứa bé gọi Ga-ro-nê đến thì đứa lớn kia buộc phải đứng yên ngay. – Qua đó, ta thấy nhân vật Ga-ro-nê là người biết bênh vực lẽ phải, luôn giúp đỡ mọi người xung quanh, đặc biệt là người yếu thế. Câu 5: Qua văn bản, em rút ra bài học: + Luôn quan tâm giúp đỡ bạn bè. + Đối xử tốt với tất cả mọi người, kể cả người yếu thế. + Thân thiện, hoà nhã, yêu thương mọi người.
Sinh thời Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng nói: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta". Từ quá khứ đến hiện tại rất nhiều vị anh hùng đã hi sinh để đấu tranh giành lại độc lập cho đất nước. Và chị Võ Thị Sáu là một trong những nữ anh hùng mà em vô cùng cảm phục.
Võ Thị Sáu là nữ anh hùng cách mạng sinh năm 1933 ở xã Phước Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (nay là thành phố Hồ Chí Minh). Sinh ra trong thời loạn lạc, chứng kiến đồng bào bị thực dân Pháp giết hại dã man, lòng yêu nước trong Võ Thị Sáu trào dâng và sự căm phẫn đối với thực dân Pháp không ngừng sôi sục.
Năm 1947, khi mới chỉ mười bốn tuổi, Võ Thị Sáu theo anh gia nhập Việt Minh, trốn lên chiến khu chống Pháp. Chị tham gia đội công ăn xung phong, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên lạc, tiếp tế cho công an. Tháng 7 năm 1948, chị Võ Thị Sáu xung phong tham gia phá cuộc mít tinh kỷ niệm Quốc Khánh Pháp. Biết đây là nhiệm vụ gian nan, nguy hiểm, chị Sáu vẫn chủ động xin được trực tiếp đánh trận này. Chị chuẩn bị lựu đạn từ nửa đêm và khi xe tỉnh trưởng đến, chị ném lựu đạn vào khán đài, khiến cuộc mít tinh bị giải tán. Lực lượng công ăn yểm trợ giúp chị rút lui ăn toàn, người dân được Việt Minh hướng dẫn rời khỏi sân. Sau chiến công này, chị Sáu được tổ chức tuyên dương khen ngợi và được giao nhiệm vụ diệt tề trừ gian, bao gồm việc tiêu diệt tên cai tổng Tòng. Tháng 11 năm 1948, Võ Thị Sáu mang theo lựu đạn trà trộn vào đám người đi làm căn cước. Giữa buổi, chị ném lựu đạn vào nơi làm việc của Tòng, hô to "Việt Minh tấn công" rồi kéo mấy chị em cùng chạy. Lựu đạn nổ, tên Tòng bị thương nặng nhưng không chết. Tuy nhiên, vụ tấn công khiến bọn lính đồn khiếp vía, không dám truy lùng Việt Minh ráo riết như trước. Tháng 2 năm 1950, Võ Thị Sáu tiếp tục nhận nhiệm vụ ném lựu đạn, tiêu diệt hai chỉ điểm viên của thực dân Pháp là Cả Suốt và Cả Đay, rồi không may bị bắt. Trong hơn một tháng bị giảm tại nhà tù Đất Đỏ, dù bị giặc tra tấn dã man, chị không khai báo nửa lời. Khi mới bị bắt, địch trả tấn chị chết đi sống lại nhưng không mới được nửa lời khai báo. Địch phải chuyển chị về khám Chí Hoà. Chị Sáu tiếp tục làm liên lạc cho các đồng chí trong khám, cùng chị em tại tù đấu tranh đòi cải thiện cuộc sống nhà tù.
Trước tinh thần đấu tranh quyết liệt của Võ Thị Sáu, thực dân Pháp và tay Sài mở phiên toà, kết án tử hình đối với nữ chiến sĩ trẻ. Chúng chuyển chị cùng một số người tù cách mạng ra nhà tù Côn Đảo. Đứng trước toà, Võ Thị Sáu khi ấy 17 tuổi lớn giọng đanh thép: "Yêu nước, chống bọn thực dân xâm lược không phải là tội." Đến khi toà kết án tử hình nữ chiến sẽ trẻ, chị vẫn hô to không hề khoản nhượng. "Đả đảo thực dân Pháp! Kháng chiến nhất định thắng lợi!" Ngày 23/1/1952, khoảng 4 giờ sáng, bầu trời u ám xám xịt, từng cơn sóng giận dữ xô bờ, từ các trại giam tiếng hô thất thanh vang vọng: "Phản đối xử bắn Võ Thị Sáu. Phản đối! Phản đối! Đả đảo thực dân Pháp." Trước giờ hành hình, viên cha đạo muốn làm lễ rửa tội cho Võ Thị Sáu nhưng chị từ chối và một lần nữa khẳng định: "Tôi không có tội. Chỉ có kẻ sắp hành hình tôi đây mới có tội." Trước giờ hành hình chị vẫn hiên ngang, không quỳ, không cho bịt mắt, muốn được nhìn đất nước đến giây phút cuối cùng. Chị dũng cảm hát vang giữa họng súng kẻ thù. Dù bị bắn, ánh mắt chị vẫn sáng ngời khiến lính ngần ngại nổ súng tiếp. Cuối cùng, chị gục xuống nhưng vẫn giữ tình thần bất khuất, thể hiện lòng yêu nước kiên trung.
"Người thiếu nữ ấy như mùa xuân. Chị đã dâng trọn cuộc đời. Để chiến đấu với bao niềm tin. Dù chết cũng không lùi bước..." Tính thần dũng cảm của chị Võ Thị Sáu đã truyền cảm hứng cho bảo thế hệ thanh niên Việt Nam, tiếp tục viết nên lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc. Cảm phục trước tấm gương nữ anh hùng, chúng em tự hứa sẽ cố gắng học tập thật tốt hơn nữa để xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh và tươi đẹp hơn, xứng đáng với sự hi sinh anh dũng của các thế hệ đi trước.
Qua bài thơ, em rút ra được bài học:
-Thấu hiểu, đồng cảm, thương xót cho những người bị khuyết tật.
-Biết giúp đỡ, không kì thị, xa lánh những người bị khuyết tật.
Trong hai câu thơ trên, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ: hót nắng vàng ánh ỏi. “Ánh ỏi” vốn là từ gợi lên âm thanh tiếng chim, nhưng trong bài thơ này nó còn gợi cả sắc nắng vàng lấp lánh. Tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ở đây (cảm nhận tiếng hót bằng thị giác thay vì bằng thính giác) có tác dụng đem đến sự giao hòa giữa âm thanh và ánh sáng; gợi lên trong thế giới của trẻ khiếm thính một vùng trời sống động, sinh sắc và vui tươi một cách đầy diệu kì.
kk
36