Dương Tuấn Phong

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Dương Tuấn Phong
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Theo đề bài, bộ phát wifi cách ông A là 20 mét.Vì \(20\text{ mét} < 35\text{ mét}\) (khoảng cách nhỏ hơn bán kính hoạt động) nên điện thoại của ông A nhận được sóng wifi.

Ông A và ông B đứng cách nhau 55 mét. Bộ phát wifi nằm cách ông A 20 mét.Khoảng cách ngắn nhất có thể từ bộ phát wifi đến ông B (trong trường hợp bộ phát nằm trên đoạn thẳng nối giữa ông A và ông B) là: \(55 - 20 = 35\text{ mét}\).Khoảng cách lớn nhất có thể từ bộ phát wifi đến ông B (trong trường hợp ông A nằm trên đoạn thẳng nối từ bộ phát đến ông B) là: \(55 + 20 = 75\text{ mét}\).Do đó, trong mọi trường hợp vị trí, khoảng cách từ bộ phát wifi đến ông B luôn lớn hơn hoặc bằng 35 mét.Tuy nhiên, vì đề bài không nói rõ bộ phát wifi có nằm chính xác trên đoạn thẳng nối hai người hay không, ta xét trường hợp lý tưởng nhất là bộ phát nằm giữa hai ông để ông B ở gần nhất (35 mét). Ngay cả ở vị trí gần nhất này, ông B cũng chỉ vừa chạm đến ranh giới ngoài cùng của sóng (nơi tín hiệu cực kỳ yếu hoặc mất kết nối). Ở bất kỳ vị trí nào khác ngoài đường thẳng đó, khoảng cách sẽ lớn hơn 35 mét (theo bất đẳng thức tam giác).

Kết luận: Điện thoại di động của ông B sẽ không nhận được sóng wifi (hoặc không thể kết nối ổn định) vì ông B đứng ngoài bán kính hoạt động 35 mét của bộ phát.

a) Chứng minh tia \(AM\) là tia phân giác góc \(A\) của tam giác \(ABC\)

  • Xét tam giác \(ABD\) có \(AB = AD\) (theo giả thiết). Do đó, tam giác \(ABD\) là tam giác cân tại \(A\).
  • Trong tam giác cân \(ABD\), \(M\) là trung điểm của cạnh đáy \(BD\) (theo giả thiết).
  • Do đó, đoạn thẳng \(AM\) đóng vai trò là đường trung tuyến ứng với cạnh đáy.
  • Theo tính chất của tam giác cân, đường trung tuyến xuất phát từ đỉnh đồng thời là đường phân giác của góc ở đỉnh đó.
  • Vậy \(AM\) là tia phân giác của góc \(BAD\), hay tia \(AM\) là tia phân giác góc \(A\) của tam giác \(ABC\).

b) Tính số đo góc \(ACE\) khi góc \(C = 30^\circ\)

  • Tính chất giao điểm các đường phân giác:
    • Trong tam giác \(ABC\), \(AM\) là đường phân giác của góc \(A\) (chứng minh ở câu a).
    • Tia \(BE\) là đường phân giác của góc \(B\) (theo giả thiết).
    • Giao điểm \(E\) của \(AM\) và \(BE\) chính là tâm đường tròn nội tiếp tam giác \(ABC\).
    • Do ba đường phân giác của một tam giác luôn đồng quy tại một điểm, nên tia \(CE\) bắt buộc phải là tia phân giác của góc \(C\).
  • Tính số đo góc \(ACE\):
    • Vì \(CE\) là tia phân giác của góc \(C\), ta có:
      \(\widehat{ACE}=\frac{\widehat{C}}{2}\)
    • Thay số đo góc \(\widehat{C} = 30^\circ\) vào công thức:
      \(\widehat{ACE}=\frac{30^{\circ }}{2}=15^{\circ }\)
  • Kết luận: Số đo góc \(ACE\) bằng \(15^{\circ }\).

a) Đa thức \(A\) biểu diễn số tiền nhận được sau khi gửi 1 năm:
Số tiền lãi sau 1 năm là: \(300 \cdot \frac{x}{100} = 3x\) (triệu đồng).
Tổng số tiền cả gốc lẫn lãi là:
\(A=300+3x\text{\ (triu\ đng)}\)

b) Đa thức \(B\) biểu diễn số tiền nhận được sau khi gửi 2 năm:
Sang năm thứ hai, số vốn ban đầu chính là \(A\). Số tiền nhận được sau năm thứ 2 là:
\(B = A + A \cdot \frac{x}{100} = A(1 + \frac{x}{100})\)
Thay \(A = 300(1 + \frac{x}{100})\) vào, ta có:
\(B=300(1+\frac{x}{100})^{2}=300+6x+0,03x^{2}\text{\ (triu\ đng)}\)

c) Đa thức \(C\) biểu diễn số tiền nhận được sau khi gửi 3 năm:
(Câu c trong đề bài của bạn bị lặp lại "2 năm", thông thường đây sẽ là tính cho năm thứ 3).
Tương tự phương thức lãi nhập gốc, số tiền sau năm thứ 3 là:
\(C=300(1+\frac{x}{100})^{3}\text{\ (triu\ đng)}\)Khai triển đa thức: \(C = 300 + 9x + 0,09x^2 + 0,0003x^3\).

d) Tính số tiền cụ thể với lãi suất \(x = 6\%\):

  • Sau 1 năm:
    \(A = 300 + 3 \cdot 6 = 318\) (triệu đồng).
  • Sau 2 năm:
    \(B = 300 \cdot (1 + \frac{6}{100})^2 = 300 \cdot (1,06)^2 = 337,08\) (triệu đồng).
  • Sau 3 năm:
    \(C = 300 \cdot (1 + \frac{6}{100})^3 = 300 \cdot (1,06)^3 = 357,3048\) (triệu đồng).

Tóm lại: Nếu lãi suất là 6%/năm, sau 1 năm người đó nhận được 318 triệu, sau 2 năm nhận được 337,08 triệu và sau 3 năm nhận được khoảng 357,3 triệu đồng.

a) Loại biểu đồ:
Biểu đồ đã sử dụng là biểu đồ cột kép. [1]

b) Đối tượng và tiêu chí thống kê:

  • Đối tượng thống kê: Số tiền đầu tư của công ty An Bình vào vùng ĐBSH và vùng ĐBSCL.
  • Tiêu chí thống kê: Số tiền đầu tư (tỉ đồng). [1]

c) Bảng số liệu thống kê (Số tiền đầu tư - tỉ đồng):
(Dựa trên dữ liệu giả định phổ biến cho dạng bài tập này, vì không có hình ảnh gốc, số liệu có thể thay đổi tùy thuộc vào hình ảnh cụ thể)

Quý

1

2

3

4

Số tiền đầu tư vào vùng ĐBSH

(tỉ đồng)

10

15

20

25

Số tiền đầu tư vào vùng ĐBSCL

(tỉ đồng)

15

20

15

10

d) Quý có tổng mức đầu tư cao nhất:
Dựa vào bảng số liệu trên, ta cộng tổng đầu tư hai vùng theo quý:

  • Quý 1: \(10 + 15 = 25\)
  • Quý 2: \(15 + 20 = 35\)
  • Quý 3: \(20 + 15 = 35\)
  • Quý 4: \(25 + 10 = 35\)
    (Trong ví dụ này, Quý 2, 3, 4 cao nhất và bằng nhau. Dựa vào hình ảnh thực tế của bạn để xác định chính xác).

e) Vùng kinh tế được đầu tư nhiều hơn:

  • Tổng đầu tư ĐBSH: \(10+15+20+25 = 70\) (tỉ đồng)
  • Tổng đầu tư ĐBSCL: \(15+20+15+10 = 60\) (tỉ đồng)
    => Trong trường hợp này, công ty đầu tư vào vùng ĐBSH nhiều hơn.