Lưu Thị Thùy Linh
Giới thiệu về bản thân
a) MN là đường trung bình trong tam giác CBD
Suy ra N là trung điểm của CD (1). IN là đường trung bình trong tam giác AMN
Suy ra D là trung điểm của AN (2)
Từ (1) và (2) suy ra AD=1/2 DC b) Có ID=1/2 MN;MN =1/2BD
Nên BD =ID
Câu 1 Bài thơ “Đề đền Sầm Nghi Đống” của Hồ Xuân Hương thể hiện rõ thái độ phê phán sâu cay và tinh thần dân tộc mạnh mẽ của nữ sĩ. Qua hình ảnh ngôi đền thờ tướng giặc Sầm Nghi Đống, tác giả bộc lộ sự mỉa mai, châm biếm đối với kẻ xâm lược đã thất bại thảm hại trên đất nước ta. Những hình ảnh trong bài thơ vừa gợi không khí hoang tàn, lạnh lẽo, vừa khắc họa sự nhục nhã của một tên tướng bại trận. Đặc biệt, giọng điệu thơ sắc sảo, đanh thép đã thể hiện thái độ khinh bỉ của Hồ Xuân Hương trước việc thờ phụng một kẻ xâm lăng. Qua đó, bài thơ không chỉ lên án quân xâm lược mà còn khẳng định lòng tự hào dân tộc, ý thức về chủ quyền và tinh thần yêu nước sâu sắc của tác giả. Câu 2 Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, có thể thấy rằng trách nhiệm xây dựng và bảo vệ đất nước không phải là nghĩa vụ của riêng ai mà là bổn phận thiêng liêng của mỗi người dân. Đất nước được hình thành từ lịch sử lâu dài, từ mồ hôi, xương máu của biết bao thế hệ cha ông, vì vậy mỗi chúng ta cần ý thức rõ vai trò của mình trong công cuộc giữ gìn và phát triển Tổ quốc. Trách nhiệm xây dựng đất nước trước hết thể hiện ở việc mỗi người không ngừng học tập, rèn luyện để hoàn thiện bản thân. Khi mỗi cá nhân sống có mục tiêu, có tri thức, có đạo đức, xã hội sẽ ngày càng phát triển bền vững. Bên cạnh đó, trách nhiệm còn được thể hiện qua việc chấp hành pháp luật, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường sống và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Những hành động tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại góp phần tạo nên sức mạnh to lớn cho đất nước. Không chỉ xây dựng, mỗi người còn có trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc. Trong thời bình, bảo vệ đất nước là giữ gìn độc lập, chủ quyền, đấu tranh với những hành vi sai trái, chống lại các tư tưởng lệch lạc làm tổn hại đến lợi ích quốc gia. Đối với thế hệ trẻ, trách nhiệm ấy càng trở nên quan trọng hơn khi các em chính là chủ nhân tương lai của đất nước. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn một số người sống thờ ơ, vô trách nhiệm, chỉ biết hưởng thụ mà không quan tâm đến lợi ích chung. Lối sống ấy cần được phê phán và loại bỏ. Mỗi cá nhân cần tự nhận thức, tự điều chỉnh hành vi để sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và xã hội. Tóm lại, xây dựng và bảo vệ đất nước là trách nhiệm chung của toàn dân tộc. Khi mỗi người đều ý thức được vai trò của mình và hành động bằng những việc làm thiết thực, đất nước sẽ ngày càng giàu mạnh, văn minh và bền vững.
Câu 1:
Bài thơ thuộc thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Câu 2 Từ tượng hình được sử dụng trong bài thơ: "cheo leo". Trợ từ: "kìa". Câu 3 Những chi tiết miêu tả hành động, thái độ của nữ sĩ Xuân Hương khi đi qua đền Sầm Nghi Đống trong hai câu thơ đầu là "ghé mắt trông ngang", "kìa". – Nhận xét: Ta cảm nhận được đó là cái nhìn ngang, nhìn bằng nửa con mắt, khinh rẻ, coi thường của nhà thơ với kẻ xâm lược bại trận. Đây là cái nhìn châm biếm sâu cay, đầy chế giễu. Từ "kìa" cho thấy sự coi thường, mỉa mai của nữ sĩ. Từ đó, tác giả còn thể hiện niềm tự hào dân tộc vì đã đánh bại kẻ thù xâm lược. Câu 4 Trong hai câu thơ đã cho, tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hoá "đền Thái Thú đứng cheo leo". – Tác dụng: Nhân hoá khiến cho hình ảnh đền Thái Thú hiện lên sinh động, có sự sống, mang đặc điểm của con người. Gợi hình ảnh ngôi đền ở thế chông chênh, không vững chãi, không còn mang sự thiêng liêng vốn có của một ngôi đền. Thông qua hình ảnh đó, tác giả đã thể hiện thái độ coi thường, khinh bỉ đối với kẻ thù bại trận Sầm Nghi Đống bởi dân tộc ta. Từ đó, câu thơ càng tô đậm sắc thái, giọng điệu trào phúng sâu cay. Câu 5 -Tác giả thể hiện sự mỉa mai, khinh bỉ sâu cay với thất bại nhục nhã của kẻ thù xâm lược; vạch trần vẻ uy nghiêm giả tạo của đền thờ để khẳng định niềm tự hào dân tộc. - Tác phẩm là lời thách thức táo bạo đối với quan niệm "trọng nam khinh nữ" của xã hội phong kiến, qua đó khẳng định tài năng, chí khí và khát vọng làm nên sự nghiệp phi thường của người phụ nữ Việt Nam. Bài thơ gửi gắm tinh thần dân tộc mạnh mẽ, khát vọng bình đẳng giới và ý chí giải phóng cá tính của người phụ nữ.
Trong xã hội hiện đại, giới trẻ được xem là lực lượng năng động, sáng tạo, giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng tương lai đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những bạn trẻ sống tích cực, có lý tưởng và trách nhiệm, vẫn còn tồn tại một bộ phận giới trẻ có lối sống vô trách nhiệm, gây ra nhiều hệ lụy đáng lo ngại cho bản thân, gia đình và xã hội. Lối sống vô trách nhiệm của một số bạn trẻ hiện nay thể hiện ở nhiều khía cạnh. Trước hết, đó là sự thờ ơ với việc học tập và rèn luyện bản thân. Nhiều bạn sa đà vào trò chơi điện tử, mạng xã hội, ăn chơi hưởng thụ mà bỏ bê việc học, không có mục tiêu hay định hướng rõ ràng cho tương lai. Bên cạnh đó, không ít người còn thiếu trách nhiệm với gia đình, sống phụ thuộc, ỷ lại vào cha mẹ, không quan tâm đến công lao nuôi dưỡng, giáo dục của những người thân yêu. Nguy hiểm hơn, một số bạn trẻ còn có lối sống buông thả, vi phạm pháp luật, gây rối trật tự xã hội nhưng lại né tránh trách nhiệm, đổ lỗi cho hoàn cảnh. Nguyên nhân của lối sống vô trách nhiệm này xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là do sự thiếu nhận thức và bản lĩnh sống của chính bản thân người trẻ. Ngoài ra, sự buông lỏng quản lý, giáo dục của gia đình, cùng với những tác động tiêu cực từ mạng xã hội, lối sống thực dụng, hưởng thụ trong xã hội hiện đại cũng góp phần làm cho một số bạn trẻ dần mất phương hướng. Bên cạnh đó, việc thiếu những tấm gương tích cực để noi theo cũng khiến giới trẻ dễ bị cuốn theo những thói quen xấu. Lối sống vô trách nhiệm để lại những hậu quả nghiêm trọng. Đối với cá nhân, nó khiến con người đánh mất tương lai, nhân cách và cơ hội thành công. Đối với gia đình, đó là nỗi buồn, sự thất vọng và gánh nặng tinh thần. Còn đối với xã hội, lối sống này làm suy giảm chất lượng nguồn nhân lực, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển chung của đất nước. Trước thực trạng đó, mỗi bạn trẻ cần tự ý thức và rèn luyện lối sống có trách nhiệm. Chúng ta cần xác định mục tiêu sống đúng đắn, chăm chỉ học tập, biết yêu thương và sẻ chia với gia đình, cộng đồng. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần quan tâm, giáo dục và tạo môi trường lành mạnh để giúp giới trẻ phát triển toàn diện cả về trí tuệ lẫn nhân cách. Tóm lại, lối sống vô trách nhiệm của một bộ phận giới trẻ là vấn đề đáng báo động trong xã hội hiện nay. Mỗi người trẻ hãy sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, bởi chỉ khi đó, chúng ta mới thực sự xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường. Câu 2: Đối tượng trào phúng trong bài thơ là tác giả. Câu 3: – Từ “làng nhàng” trong bài thơ có nghĩa là thuộc vào loại tạm gọi là trung bình, không có gì nổi bật. – Từ “làng nhàng” góp phần thể hiện thái độ xem thường, mỉa mai, cười cợt chính mình của tác giả. Bên cạnh đó, từ này còn giúp bộc lộ cảm xúc buồn bã, tủi hổ của nhà thơ khi nhận thấy mình chỉ là kẻ tầm thường, vô dụng. Câu 4: – Nghệ thuật trào phúng trong hai câu thơ là ẩn dụ. – Tác dụng: Nhấn mạnh hoàn cảnh của đất nước (nước mất, bế tắc như thế cờ bí); hoàn cảnh của chính nhà thơ (chưa trọn cuộc đời làm quan đã bỏ về ở ẩn như con bạc chạy làng). Biện pháp ẩn dụ khắc họa rõ tiếng cười của tác giả tự chế nhạo mình là kẻ vô tích sự khi đất nước rơi vào cảnh khốn cùng thì bản thân chẳng thể làm gì có ích. Câu 5: Vào thời phong kiến, những người đỗ đạt trong các kì thi thường được khắc tên trên “bia xanh”, “bảng vàng”. Hai câu thơ chính là tiếng cười chua cay của tác giả. Ông tự cười cợt, khinh bỉ chính địa vị mà mình từng được ngồi. Dù có đỗ đạt nhưng chẳng thể làm gì trước cảnh nước mất nhà tan. Câu 6: Cần noi theo tấm gương học tập của Bác Hồ, ra sức học hành, tích lũy tri thức, góp phần đưa đất nước phát triển với cường quốc năm châu. Cần giữ gìn, bảo vệ những giá trị truyền thống nhưng cũng cần tiếp thu sự phát triển hiện đại của khoa học công nghệ. Cần có ý thức quảng bá nét đẹp văn hóa đất nước với bạn bè năm châu.
Vào tháng 12 năm ngoái, trường em được thầy cô tổ chức một chuyến đi tham quan vô cùng ý nghĩa đến Bảo tàng Phòng không – Không quân ở thủ đô Hà Nội. Ngay từ sáng sớm, cả lớp đã tụ họp đông đủ, ai nấy đều háo hức, gương mặt rạng rỡ nụ cười. Những chiếc áo đồng phục xanh đồng đều, những chiếc mũ vàng tươi nổi bật giữa ánh nắng ban mai khiến em cảm thấy như sắp bắt đầu một hành trình thật đặc biệt. Trên xe, tiếng hát, tiếng cười rộn ràng vang lên không ngớt, ai cũng háo hức chờ đợi được tận mắt nhìn thấy những hiện vật quý giá gắn với lịch sử oanh liệt của dân tộc. Khi đến nơi, trước mắt em là một khu bảo tàng rộng lớn, khang trang với những chiếc máy bay, tên lửa, và xe quân sự được trưng bày ngay từ ngoài sân. Em cảm thấy thật nhỏ bé khi đứng cạnh những chiếc máy bay khổng lồ – chứng nhân của một thời chiến đấu ác liệt nhưng đầy kiêu hãnh của quân đội ta. Bước vào trong bảo tàng, không gian tràn ngập những hình ảnh, tư liệu, và hiện vật quý hiếm. Từng bức ảnh, từng tấm huân chương, từng bộ quân phục cũ đều chứa đựng biết bao câu chuyện cảm động về những người lính đã hi sinh vì bầu trời Tổ quốc. Dưới sự hướng dẫn của chú cán bộ bảo tàng, chúng em được nghe kể về những chiến công vang dội của bộ đội Phòng không – Không quân trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Em đặc biệt ấn tượng với câu chuyện về chiếc máy bay MIG-21 “con én bạc” đã lập nên chiến công bắn rơi nhiều máy bay địch trên bầu trời Hà Nội. Khi được tận mắt nhìn thấy chiếc máy bay thật, em cảm thấy vừa tự hào vừa xúc động, trong lòng trào dâng niềm biết ơn sâu sắc đối với các chú phi công anh hùng. Ra khỏi khu trưng bày, chúng em được tham quan khu vực ngoài trời, nơi có nhiều mô hình radar, tên lửa và máy bay tiêm kích. Ai cũng tranh thủ chụp ảnh lưu niệm, nụ cười nở rạng rỡ trên môi. Chị hướng dẫn viên còn tổ chức một trò chơi nhỏ để kiểm tra kiến thức sau chuyến tham quan, khiến không khí càng thêm vui vẻ, sôi nổi. Trên đường trở về trường, em vẫn không thôi nghĩ về những hình ảnh mình đã được chứng kiến. Chuyến đi hôm ấy đã giúp em hiểu hơn về lịch sử, về tinh thần chiến đấu quả cảm của quân và dân ta trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Em cảm thấy vô cùng tự hào khi được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam anh hùng. Chuyến đi tham quan Bảo tàng Phòng không - Không quân đã để lại trong em một ấn tượng thật sâu sắc một bài học quý giá về lòng yêu nước, sự hi sinh và ý chí kiên cường của con người Việt Nam. Em tự hứa sẽ cố gắng học tập thật tốt, rèn luyện thật chăm chỉ để sau này trở thành người có ích, góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp hơn.
Vào một ngày đầu xuân rực rỡ, em có dịp cùng gia đình tham quan khu di tích lịch sử văn hoá Tây Yên Tử, thuộc tỉnh Bắc Giang. Ngay từ sáng sớm, ai trong nhà cũng háo hức chuẩn bị đồ đạc, mang theo máy ảnh, nước uống và đồ ăn nhẹ cho chuyến đi. Con đường dẫn đến Tây Yên Tử quanh co, uốn lượn qua những dãy núi xanh thẳm, khiến em cảm thấy vô cùng thích thú và tò mò về điểm đến phía trước. Khi đến nơi, em choáng ngợp trước vẻ đẹp hùng vĩ mà nên thơ của núi rừng Yên Tử. Những ngọn núi trùng điệp ẩn hiện trong làn sương mờ tạo nên một khung cảnh huyền ảo như chốn bồng lai tiên cảnh. Cả gia đình em cùng nhau leo từng bậc đá để lên chùa, hai bên đường là rừng cây xanh mát, tiếng chim hót líu lo hòa cùng tiếng chuông chùa ngân vang trầm mặc. Mỗi bước chân đi lên cao, em lại cảm nhận rõ hơn sự linh thiêng và bình yên của vùng đất Phật. Tại ngôi chùa cổ kính trên đỉnh núi, em được nghe hướng dẫn viên kể về vua Trần Nhân Tông vị vua anh minh đã từ bỏ ngai vàng để tu hành, sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Câu chuyện ấy khiến em vô cùng cảm phục và tự hào về truyền thống đạo đức, nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam. Em cũng được chiêm ngưỡng nhiều pho tượng Phật bằng đồng sáng bóng, những bức hoành phi, câu đối cổ kính được chạm khắc tinh xảo. Sau khi tham quan xong, cả gia đình em ngồi nghỉ bên một gốc cây lớn, cùng nhau ăn trưa và ngắm nhìn khung cảnh núi non bao la. Những đám mây trắng nhẹ nhàng bay ngang qua đỉnh núi, gió thổi mát rượi khiến em cảm thấy tâm hồn thật nhẹ nhõm. Trên đường về, em vẫn không ngừng ngoái lại nhìn ngọn núi Yên Tử cao vút, trong lòng dâng lên một cảm xúc khó tả vừa lưu luyến, vừa biết ơn. Chuyến đi ấy đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc. Em không chỉ được mở rộng hiểu biết về lịch sử, văn hóa dân tộc mà còn học được cách trân trọng, gìn giữ những di sản quý báu mà cha ông đã để lại. Em tự nhủ sẽ cố gắng học thật giỏi, trở thành một người có ích để góp phần xây dựng và quảng bá những giá trị tốt đẹp của quê hương Bắc Giang nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung.
Niềm hi vọng là ngọn lửa thắp sáng tâm hồn con người giữa những ngày tối tăm và gian khó. Khi cuộc sống gặp trắc trở, chính niềm hi vọng giúp ta có thêm sức mạnh để đứng dậy, tiếp tục bước đi trên con đường mình chọn. Giống như tiếng pháo “đùng” vang lên trong đêm giao thừa, niềm hi vọng báo hiệu một khởi đầu mới, một mùa xuân tràn đầy sự sống và niềm tin. Người có hi vọng sẽ luôn nhìn thấy ánh sáng ngay cả khi ở trong bóng tối, luôn tin rằng sau cơn mưa trời sẽ lại sáng. Hi vọng không chỉ giúp con người vượt qua nỗi buồn mà còn khơi dậy ý chí, khát vọng vươn lên để thay đổi cuộc đời.Cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa nếu con người đánh mất hi vọng, bởi không có hi vọng thì cũng không còn niềm tin vào ngày mai. Dù gặp bao thất bại, nếu ta vẫn giữ được hi vọng thì vẫn còn cơ hội để bắt đầu lại. Chính niềm tin ấy khiến con người mạnh mẽ, kiên cường hơn trước khó khăn và thử thách. Mỗi chúng ta cần nuôi dưỡng hi vọng trong tim, hướng về tương lai bằng cái nhìn lạc quan và tấm lòng đầy yêu thương. Bởi chỉ khi có hi vọng, cuộc sống mới thật sự có ý nghĩa và tràn đầy ánh sáng.
Tâm trạng của một nhà nho gắn bó với bao nỗi vui buồn của nhân dân giữa thời loạn lạc, đói rét, lầm than. – Nỗi buồn bơ vơ, cô đơn của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc, chỉ có thể đứng nhìn cảnh chợ thưa thớt, người người đói khổ. – Nhà thơ cũng khao khát, mong ước có một tín hiệu tốt đẹp trong năm mới để nhân dân thoát khỏi hoàn cảnh bi đát hiện tại.
Câu 1:
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
Câu 2:
Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương, hoa hoè sum suê, thạch lựu nở hoa đỏ chói; hoa sen đến mùa nở rộ Câu 3: – Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”. – Tác dụng:
+ Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống. + Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người. + Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên. Câu 4:
Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc: – Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc. – Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân. – Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội. => Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Câu 5:
– Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi. – Căn cứ để xác định chủ đề: + Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”. + Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả. + Nội dung chính của các phần.
Câu 6:
– Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Rút ra bài học trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình. + Biết trân trọng những điều giản dị trong đời sống: cảnh vật, âm thanh, sắc màu quanh ta. + Giữ cho mình tinh thần lạc quan, tìm thấy niềm vui ngay trong cuộc sống thường ngày, kể cả trong học tập, lao động. + Sống chan hoà với thiên nhiên, biết bảo vệ và làm giàu đẹp môi trường sống.