Trần Nhã Phương
Giới thiệu về bản thân
Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập trường, lớp em được tham gia một chuyến tham quan về nguồn tại khu di tích lịch sử Đền Hùng – nơi thờ các Vua Hùng, những người đã có công dựng nên nước Văn Lang. Đây là chuyến đi đã để lại trong em thật nhiều kỉ niệm sâu sắc và đáng nhớ.
Sáng hôm ấy, sân trường rộn ràng tiếng nói cười. Ai cũng háo hức, mang theo ba lô, nước uống và đồ ăn nhẹ. Khi xe bắt đầu lăn bánh, qua ô cửa sổ, em nhìn thấy những cánh đồng trải dài, làng quê yên bình hiện ra dưới nắng sớm. Cả lớp cùng hát vang những bài ca học trò, khiến không khí trên xe thật vui vẻ.
Sau hơn hai giờ đồng hồ, chúng em đến nơi. Trước mắt em là khu di tích uy nghiêm, những bậc đá dẫn lên đền ẩn hiện dưới tán cây xanh. Cô hướng dẫn viên vừa đi vừa kể cho chúng em nghe về lịch sử các Vua Hùng, về thời kỳ dựng nước gian khổ nhưng hào hùng. Em cảm thấy như mình đang được trở về quá khứ, được chạm vào một phần linh thiêng của dân tộc.
Khi lên đến Đền Thượng, cả lớp xếp hàng ngay ngắn để dâng hương tưởng nhớ tổ tiên. Khói hương nghi ngút, mùi trầm lan tỏa khiến lòng em bỗng chùng xuống. Em thầm cầu mong cho bản thân học tập thật tốt và cho đất nước luôn bình yên, thịnh vượng. Khoảnh khắc ấy, em thấy lòng mình dâng lên niềm tự hào và biết ơn vô bờ bến đối với công lao của cha ông.
Sau khi tham quan, chúng em ăn trưa và nghỉ ngơi dưới bóng cây mát. Cô chủ nhiệm tổ chức vài trò chơi nhỏ, cả lớp cười vang không ngớt. Dường như mọi lo âu, mệt mỏi đều tan biến, chỉ còn lại niềm vui và tình cảm gắn bó giữa các bạn trong lớp.
Khi xe rời khu di tích, em vẫn còn ngoái lại nhìn. Trong lòng trào dâng một cảm xúc khó tả – vừa tự hào, vừa lưu luyến. Chuyến đi không chỉ giúp em hiểu thêm về lịch sử dân tộc mà còn dạy em biết trân trọng những giá trị thiêng liêng của quê hương, đất nước.
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương.
(HS cũng có thể diễn đạt: hoa hoè sum suê, thạch lựu nở hoa đỏ chói; hoa sen đến mùa nở rộ;…)
Câu 3.
– Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”.
– Tác dụng:
+ Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống.
+ Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người.
+ Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên.
Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc:
– Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc.
– Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân.
– Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội.
=> Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Câu 5.
– Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi.
– Căn cứ để xác định chủ đề:
+ Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”.
+ Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả.
+ Nội dung chính của các phần.
(HS cần nêu được 02 căn cứ phù hợp, thuyết phục)
Câu 6.
– Hình thức:
+ Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả.
+ Dung lượng: ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng.
– Nội dung: Rút ra bài học trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình.
+ Biết trân trọng những điều giản dị trong đời sống: cảnh vật, âm thanh, sắc màu quanh ta.
+ Giữ cho mình tinh thần lạc quan, tìm thấy niềm vui ngay trong cuộc sống thường ngày, kể cả trong học tập, lao động.
+ Sống chan hoà với thiên nhiên, biết bảo vệ và làm giàu đẹp môi trường sống.