Lương Thị Trà My

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lương Thị Trà My
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu1

Trong đoạn trích Chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ hiện lên với nỗi cô đơn và khắc khoải tột cùng khi chồng ra trận. Cô sống trong không gian tĩnh lặng, chỉ có “đèn” làm bạn, những hành động như “thắp đèn”, “gảy đàn” rồi lại “bỏ đàn” chỉ để giết thời gian, nhưng càng làm lòng thêm trống vắng. Đặc biệt, hai câu “Hỡi như ai hồn say bóng lẫn / Bỗng thơ thơ thần thần như không” khắc họa sâu sắc trạng thái tinh thần hoảng loạn, mơ hồ, như mất đi ý thức về sự tồn tại. Người chinh phụ không chỉ nhớ thương mà còn rơi vào cảm giác bị bỏ rơi giữa cuộc đời, “thân còn ở tựa hồn đã vắng”. Qua đó, tác giả tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã cướp đi hạnh phúc lứa đôi, biến người phụ nữ thành kẻ sống mà như chết. Nhân vật người chinh phụ vì thế vừa đáng thương, vừa gợi niềm cảm thông sâu sắc cho số phận người phụ nữ trong xã hội xưa.

Câu 2

Đọc Chinh phụ ngâm, ta bắt gặp hình ảnh người chinh phụ cô đơn, vò võ bên ngọn đèn khuya, ngày ngày ngóng trông chồng trở về từ nơi biên ải xa xôi. Bóng dáng người phụ nữ trong đêm trường chiến tranh hiện lên không chỉ như một thân phận riêng lẻ mà còn là đại diện cho hàng vạn con người đã từng chịu mất mát, đau thương vì chiến tranh. Qua đó, ta thấm thía hơn bao giờ hết sự tàn khốc của chiến tranh và càng hiểu rõ giá trị thiêng liêng của hòa bình hôm nay.


Chiến tranh không chỉ cướp đi sinh mạng con người mà còn hủy diệt hạnh phúc, chia lìa những mái ấm sum vầy. Người chiến sĩ ra đi đối diện với hiểm nguy, có thể không bao giờ trở lại. Người ở hậu phương sống trong chờ đợi mỏi mòn, tuổi xuân rơi vào cô độc. Như người chinh phụ trong tác phẩm, không thể cùng chồng chia sẻ hiểm nguy, cũng chẳng thể làm gì ngoài việc trông ngóng trong vô vọng: “Hỡi như ai hồn say bóng lẫn / Bỗng thơ thơ thần thần như không.” Chiến tranh khiến con người sống mà như chết, cướp đi niềm vui sống và biến hạnh phúc thành giấc mơ xa vời. Cái đau của chiến tranh không chỉ nằm trên chiến trường bom đạn, mà còn thấm sâu vào tâm hồn những kẻ chờ – đợi – nhớ – mong.


Sống trong thời bình hôm nay, thế hệ trẻ chúng ta may mắn không phải nghe tiếng súng, nhưng điều đó không có nghĩa là được phép lãng quên quá khứ. Trách nhiệm của thanh niên thời đại mới là phải trân trọng giá trị hòa bình, biết sống có lý tưởng, có ý thức dựng xây đất nước, đẩy lùi hận thù, góp phần giữ gìn nền độc lập mà cha ông đã đổi bằng máu xương. Không chỉ dừng lại ở lòng biết ơn, thế hệ trẻ cần hành động thiết thực: học tập nghiêm túc, sống nhân ái, không cổ súy bạo lực, giữ gìn bản sắc văn hóa và lan tỏa những giá trị nhân văn.


Chiến tranh là bóng đêm của nhân loại, hòa bình là ánh sáng của tương lai. Nhìn về quá khứ để biết trân trọng hiện tại, đó là cách thế hệ hôm nay trả lời với lịch sử. Bởi chỉ khi hiểu được những đau thương mất mát đã qua, chúng ta mới đủ ý thức để giữ gìn hòa bình – không chỉ bằng lời nói, mà bằng chính hành động sống mỗi ngày.


Câu 1

Thể thơ của văn bản trên là thể thơ song thất lục bát

Câu 2.

Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ là:

“Trải mấy xuân tin đi tin lại,

Tới xuân này tin hãy vắng không.”

Câu 3.

Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ nghe hơi sương để sắm áo bông, thêu gấm gửi chồng, gieo quẻ bói tiền, trông trăng, thở than, dạo hiên, ngồi rèm,... Những hành động tưởng như vô nghĩa nhưng lại thể hiện sự tột cùng của nỗi cô đơn và nhớ mong Người chinh phụ không thể làm để giúp được chồng ngoài việc chờ đợi trong tuyệt vọng. Những hành động ấy chỉ nhằm nấp khoảng trống tinh thần, xong càng làm hiện rõ nỗi đau của người phụ nữ thời chiến yêu sâu nhưng bất lực.

Câu 4

Trong văn bản trên biện pháp tu từ mà em ấn tượng nhất trong văn bản là biện pháp tu từ so sánhtrong hai câu:

“Há như ai hồn say bóng lẫn,

Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.”

tác giả đã sử dụng rất thành công biện pháp tu từ so sánh nhằm làm cho câu thơ thêm phần sinh động hấp dẫn

Tác giả đã sử dụng từ “như” để so sánh tâm trạng của người phu nữ. Khắc họa tột cùng nỗi cô đơn và hoang mang tinh thần của người chinh phụ. Tạo nên không khí mộng ảo, bảng lảng, diễn tả tâm trạng bấn loạn, mất phương hướng vì nhớ mong người chồng nơi chiến trường.

Câu 5.

Trong văn bản này người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn tủi, nhớ thương chồng, khắc khoải chờ tin nơi biên ải, sống trong nỗi cô quạnh, bế tắc. Qua đó, ta càng trân trọng giá trị của hoà bình, bởi chiến tranh không chỉ gây mất mát nơi chiến trường mà còn để lại nỗi đau tinh thần cho người ở hậu phương. Vì vậy thế hệ trẻ hôm nay cần biết ơn những người đã gìn giữ độc lập, sống nhân ái và có trách nhiệm để giữ vững hoà bình.

Câu1

Tác giả Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại. Tác phẩm của ông mang sắc thái dân dã mộc mạc với những bài thơ đậm chất của làng quê Viet Nam. Nhắc đến ông ta không thể không nhắc đến bài thơ “ chim thêu” bài thơ nói về nỗi nhớ thương con da diết của người cha và mong ước sớm ngày được hoà bình. Trong ba khổ thơ cuối của bài thơ đã gợi cho ta những suy ngẫm sâu sắc vê quá khứ và hiện tại. Hình ảnh người cha “ ôm tấm áo xanh giua ngực” cho thấy tình cảm nhớ thương con da diết, ôm chiếc áo xanh mà cứ ngỡ như là đứa con bé bỏng trong vòng tay nghe thổn thức tim con. Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ hai từ “Bâng khuâng” và “chắt chiu” lên đầu câu vừa nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ con, vừa nâng niu những âm thanh nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa đoàn tụ giữa mọi vật với nhau. Hình ảnh “ chim thêu” tượng trưng cho những ước mơ tươi đẹp, mong manh nhưng lại bị cuộc sống chà đạp. Từ đó tác giả thể hiện một cảm giác trống rỗng, bế tắc khi mọi hi vọng dường như tan biến cũng như mong ước gặp con khó có thể thành. Cuối cùng là lời khẳng định về tương lai thống nhất tổ quốc, một khát vọng của cả dân tộc trong những năm tháng chiến tranh. Câu thơ “giở áo này, thấu nỗi niềm xưa” chỉ sự hi sinh của những người anh hùng xưa và những người may mắn còn sống sót giờ đây cũng có thể sống trong hoà bình “áo thêu chim trắng, tha hồ vui chơi”. Qua đó tác giả muốn cho ta thấy niềm khát vọng hoà bình thống nhất Tổ quốc của biết bao con người phải xa nhà, xa người thân và những người yêu thương của mình

Câu 1 thể thơ của văn bản là song thất lục bát

Câu 2: nhân vật trữ tình trong văn bản là người cha

Câu3: đề tài: tình phụ tử

Chủ đề: nỗi nhớ thương con da diết của người cha và mong sớm ngày được hoà bình

Câu4:

Trong bài thơ “chim thêu” của tác giả Nguyễn Bính có viết:

Bâng khuâng cặp mắt đen tròn,
Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn...

tác giả đã sử dụng rất thành công biện pháp tu từ đảo ngữ nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài thơ vào mang đến giọng điệu nhẹ nhàng

Tác giả đã đảo hai từ “bâng khuâng” và “chắt chiu” lên đầu câu để nhằm nhấn mạnh cảm súc bồi hồi và nỗi nhớ con da diết của người cha. Đồng thời làm nổi bật sự khéo léo của tác giả đối với những âm thanh thiên nhiên nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa của sự khát khao đoàn tụ với gia đình. Qua đó tác giả cho chúng ta thấy được tình phụ tử luôn rất thiêng liêng và sâu sắc dù trong bất kì hoàn cảnh nào

Câu5: Qua văn bản trên đã gợi cho e thấy đc tình cảm yêu thương, nhớ nhung con của người cha trong hoàn cảnh nước nhà bị chia cắt nên phải xa con. Từ đây tác giả cho ta thấy đc sự tàn nhẫn của quân thù đã chia cắt biết bao gia đình khiến cho con người lúc ấy luôn sống trong nỗi nhớ thương gia đình