Dương Thị Hà My

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Dương Thị Hà My
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. thể thơ của văn bản là song thất lục bát

Câu 2. Dòng thơ thể hiện rõ nhất sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng là:

"Trải mấy xuân tin đi tin lại, / Tới xuân này tin hãy vắng không.

Câu 3.Khi nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã thực hiện nhiều hành động thể hiện nỗi nhớ thương và sự lo lắng tột độ: Nhìn thấy nhạn bay tưởng là thư của chồng (tưởng thư phong)Nghe hơi sương đã vội vã sắm sửa áo bông (lo cho chồng nơi chiến trận).Đề chữ gấm, phong thư lại mở ra (viết rồi lại cất, do không biết gửi đi đâu) Gieo bói tiền mà vẫn còn ngờ về những điềm xấu.Buồn bã, tóc tai rối bời, lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo (chăm sóc bản thân bê trễ vì sầu muộn).Dạo bước thềm vắng, ngồi bên rèm thưa, đòi phen (rủ thác) (cử động vô thức vì ngóng trông).Những hành động này cho thấy tình yêu sâu sắc, thủy chung son sắt và nỗi lo âu thường trực. Mọi hành động đều xoay quanh sự mong ngóng tin tức và sự quan tâm đến sức khỏe, an nguy của chồng nơi chiến trường lạnh lẽo, khắc nghiệt. Chúng lặp đi lặp lại, thể hiện sự bế tắc và tuyệt vọng trong sự chờ đợi vô vọng.

Câu 4:trong văn bản ”Chinh phụ ngâm tác giả đặng Trần côn có viết:

“Đèn cos biết dường chẳng biết

lòng thiếp riêng bij thiết mà thôi”

những câu thơ trên đặng Trần đã rất thành công sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa qua những hình ảnh “đèn có biết”;”dường chẳng biết” câu thơ càng thêm sinh động hấp dẫn gợi hình gợi cảm cho bài thơ.Qua biện pháp tu từ nhân hóa tác giả đảng Trần côn đã khiến cho cảnh vật càng thêm sống động khiến chúng dường như cũng biết sẻ chia đồng cảm với nỗi buồn của người chinh phụ. Đồng thời,tác giả cũng làm nổi bật tâm trạng cô đơn trống vắng của người chinh phụ cảnh vật xung quanh im lìm lặng lẽ ngay cả ” đen”cũng như đang trầm ngâm buồn bã và tăng thêm nỗi buồn của nàng.Qua đó,tác giả đặng Trần côn đã thể hiện lòng cảm thông phận của những người trong thời đã từ biệt xa chồng và phải sống trong nỗi cô đơn chờ đợi

Câu 5:

trong văn bản người tri phủ đã thể hiện tâm trạng xấu bi khắc khoải nhớ thương chồng da diết cô đơn và tuổi phận nàng day dứt lo lắng cho chồng nơi chiến trường xa nhà đồng thời nàng cũng cảm thấy trong lòng của trường và thiếu sót buồn bã vì sự vắng mặt của người mình yêu

Qua tâm trạng đó ta có thể thấy giá trị vô cùng to lớn của cuộc sống ngày nay là sự đoàn viên hạnh phúc.Cuộc sống Hòa Bình cho phép các gia đình được sum vầy không còn cảnh chia ly từ biệt do chiến tranh.Nỗi đau của người chính phủ là lời nhắc nhở về giá trị của nỗi khắc khoải được ở bên cạnh người mình yêu không chỉ vậy giá trị của sự thịnh vượng cũng vô cùng cần thiết và to lớn lớn Hòa Bình là nền tảng cho sự phát triển kinh tế văn hóa xã hội.Nhà có Hòa Bình đất nước mới có thể xây dựng đời mới và mang lại cuộc sống ấm no đủ đầy cho nhân dân.Cuối cùng là sự trân trọng quá khứ để hướng về tương lai lịch sử đã trải qua những cuộc chiến tranh tàn ốc để lại nhiều mất mát hiểu được nỗi đau của những người đi trước chúng ta càng cần biết ơn và giữ gìn nền hòa bình hiện tại và không ngừng nỗ lực để thế hệ sau không phải trải qua cảnh đau binh .


câu 1:Văn bản “Chinh phụ ngâm” đã khắc họa một cách tinh tế và sâu sắc tâm trạng của người chinh phụ trong nỗi sầu chia ly, một hình ảnh tiêu biểu cho thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.Ngay từ hai câu đầu, sự đối lập được sử dụng tài tình: "Chàng thì đi cõi xa mưa gió,/ Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn." Phép đối này không chỉ thể hiện sự cách biệt về không gian (nơi hiểm nguy, nơi an toàn) mà còn nhấn mạnh sự đối lập nghiệt ngã giữa khát vọng lập công danh của người chinh phu và cuộc sống lẻ loi, cô độc của người chinh phụ nơi hậu phương. Khi hướng mắt nhìn theo chồng ra đi, nàng cảm nhận rõ sự chia cắt: "Đoái trông theo đã cách ngăn,/ Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh." Hành động "đoái trông" chất chứa niềm nhớ nhung, lưu luyến nhưng kết quả lại là một không gian mênh mông "mây biếc", "núi xanh" như một bức tường vô hình ngăn cách hai cõi lòng. Qua hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội ấy, nỗi buồn và sự chia lìa của người chinh phụ được nhân lên, thể hiện nỗi lo âu thường trực về sự an nguy của chồng nơi sa trường và nỗi xót xa cho số phận mình phải chịu cảnh "chăn đơn gối chiếc". Tác giả đã mượn cảnh vật để ngụ tình, làm nổi bật lên tấm lòng thủy chung, son sắt nhưng chất chứa nhiều bi kịch của người phụ nữ.

câu 2: Bài làm

Trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn (với bản dịch Nôm xuất sắc của Đoàn Thị Điểm) nổi lên như một khúc ca bi tráng, khắc họa sâu sắc nỗi lòng của người phụ nữ nơi hậu phương khi người chồng ra trận. Qua hình ảnh người chinh phụ cô đơn ngày đêm ngóng trông nơi biên ải xa xôi, tác phẩm đã lay động lòng người bởi những mất mát, đau thương mà chiến tranh gây ra, đồng thời thôi thúc mỗi chúng ta suy ngẫm về trách nhiệm gìn giữ hòa bình của thế hệ trẻ hôm nay.


"Chinh phụ ngâm" không chỉ là lời than thở của một người vợ về nỗi nhớ chồng, mà còn là tiếng nói oán ghét chiến tranh phi nghĩa. Đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ" đã dựng lên một bức tranh đầy ám ảnh về sự cô đơn, trống vắng. Người chinh phụ, với từng bước chân "gieo" trong hiên vắng, với dáng ngồi bên rèm thưa "rủ thác đòi phen", đã lột tả được nỗi buồn thăm thẳm, sự mòn mỏi trong chờ đợi. Ngoại cảnh như chim thước báo tin hay ngọn đèn khuya leo lét cũng chẳng thể xoa dịu được nỗi "bi thiết" trong lòng nàng. Thời gian trôi qua như vô tận, "khắc giờ đằng đẵng như niên, mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa". Nàng cố gắng tìm niềm vui qua việc đốt hương, soi gương, gảy đàn, nhưng tất cả chỉ là "gượng", càng làm nỗi cô đơn thêm chồng chất, nỗi sầu thêm da diết.


Những mất mát, đau thương mà chiến tranh gây ra không chỉ dừng lại ở đó. Đó là sự chia lìa đôi lứa, tan vỡ hạnh phúc gia đình. Đó là tuổi xuân bị bào mòn, nhan sắc tàn phai trong nỗi nhớ mong và lo âu. Đó còn là sự ám ảnh về cái chết nơi chiến trường, về cảnh "xương núi máu sông". Đặng Trần Côn đã vẽ nên bi kịch của người chinh phụ, đồng thời cũng là bi kịch chung của biết bao người phụ nữ Việt Nam trong các cuộc chiến tranh phong kiến. Họ là những nạn nhân vô tội, chịu đựng sự tàn khốc của chiến tranh mà không thể nào bù đắp.


Thế hệ trẻ hôm nay may mắn được sống trong hòa bình, một nền hòa bình được đánh đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước. "Chinh phụ ngâm" như một lời nhắc nhở đầy ám ảnh về giá trị của hòa bình, về những gì chúng ta có thể mất đi nếu chiến tranh tái diễn. Trách nhiệm của thế hệ trẻ chúng ta không chỉ là học tập tốt, rèn luyện bản thân, mà còn là trân trọng và giữ gìn nền hòa bình quý giá này.


Việc giữ gìn hòa bình không chỉ là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo hay quân đội, mà là của mỗi công dân. Chúng ta cần nâng cao nhận thức về tác hại của chiến tranh, lên án mọi hành vi gây hấn, xung đột. Chúng ta cần xây dựng một xã hội văn minh, đoàn kết, đề cao giá trị nhân ái và sự thấu hiểu lẫn nhau. Mỗi hành động nhỏ, từ việc lan tỏa thông điệp yêu hòa bình trên mạng xã hội, đến việc tham gia các hoạt động cộng đồng vì hòa bình, đều góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.


Nhìn vào người chinh phụ trong "Chinh phụ ngâm", ta càng thêm thấm thía bài học về sự quý giá của hòa bình. Chúng ta có quyền được sống, được yêu thương, được hạnh phúc mà không bị chiến tranh tàn phá. Hãy cùng nhau hành động, để tiếng hát về hòa bình mãi vang vọng, để không còn những nỗi đau như người chinh phụ đã từng trải qua.