Nịnh Thị Khánh Linh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nịnh Thị Khánh Linh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 Thể loại: Truyện ngắn. Câu 2 Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”. Câu 3 - HS tóm tắt cốt truyện qua những sự kiện chính: + Sự kiện 1: Nhân vật “tôi” cùng Bá đi mua kẹo của bà Bảy Nhiêu với những tờ tiền giả. + Sự kiện 2: Bà Bảy Nhiêu bị trúng gió, qua đời. + Sự kiện 3: Nhân vật “tôi” cùng Bá đến viếng mộ bà Bảy Nhiêu, cầu mong bà tha thứ và tiếc nuối về sự việc đã qua. - HS nhận xét về cốt truyện của văn bản: Cốt truyện đơn tuyến, bao gồm những sự kiện được sắp xếp theo trình tự thời gian tuyến tính. Câu 4 Nội dung: Văn bản kể lại một lần lầm lỡ của nhân vật “tôi” khi lừa một bà cụ đáng thương, đơn độc, mù lòa. Qua câu chuyện ấy, tác giả thể hiện chân thực, sâu sắc nỗi niềm tiếc nuối của hai cậu bé năm xưa khi đã làm chuyện có lỗi với bà mà không có bất cứ cơ hội nào để bù đắp lại lỗi lầm. Từ đó, tác giả gửi đi một thông điệp sâu sắc trong cuộc sống: Hãy sống một cách trung thực, chân thành. Câu 5 HS nêu cách hiểu của bản thân về câu văn: "Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa.". (trình bày ngắn gọn khoảng 4 - 5 dòng) (Gợi ý: Câu văn nhấn mạnh rằng trong cuộc sống, có những sai lầm mà khi đã mắc phải, ta không thể quay lại để sửa chữa hay thay đổi. Điều này nhắc nhở mỗi người cần suy nghĩ kỹ trước khi hành động, trân trọng hiện tại và có trách nhiệm với quyết định của mình. Đồng thời, nó cũng khuyến khích ta rút kinh nghiệm từ quá khứ để sống tốt hơn trong tương lai.)

Đề tham khảo số 2 Bài GV giao Bài 1 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: CHIM THÊU Chiều chủ nhật ba thường đi dạo, Các cửa hàng bày áo trẻ con. Lòng ba không khỏi riêng buồn, Ngắm từng kiểu áo, nhớ con vô cùng! Lũ chúng nó ngăn sông cản núi, Áo ba mua khôn gửi về Nam. Nhìn đàn trẻ nhỏ xênh xang, Áo thêu chim trắng, ba càng thương con. Con trong đó sớm hôm nức nở, Nghẹn lời ca dưới mỏ quạ đen. Mẹ con chẳng vụng đường kim, Áo con chẳng dám thêu chim hoà bình. Ba ôm tấm áo xanh giữa ngực Tưởng chừng nghe thổn thức tim con. Bâng khuâng cặp mắt đen tròn, Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn... Treo áo con bên bàn làm việc, Nhìn chim thêu, ba viết thơ này. Áo không gửi được hôm nay, Thì ba giữ lấy, mai ngày cho con. Ngày mai ấy, nước non một khối, Giở áo này, thấu nỗi niềm xưa, Đàn em con đó, bây giờ, Áo thêu chim trắng, tha hồ vui chơi. Mùa xuân 1957 (Theo Nguyễn Bính toàn tập, Tập 2, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2007) * Chú thích: 1. Tác giả: Nguyễn Bính (1918 - 1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, quê ở làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại. Ông được coi là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc như Mưa xuân, Chân quê, Tương tư,... 2. Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ Chim thêu trích trong tập thơ Mùa xuân (1957), tập thơ được sáng tác vào thời kỳ người dân miền Bắc tập trung xây dựng đất nước trong hòa bình, trong khi miền Nam vẫn đang chịu sự chia cắt bởi chiến tranh. Bài thơ ra đời trong bối cảnh mang nặng tâm tư về tình cảm gia đình, nỗi nhớ thương và hy vọng vào ngày mai hòa bình. Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản. Câu 2 (0,5 điểm). Nhân vật trữ tình trong văn bản là ai? Câu 3 (1,0 điểm). Nêu đề tài, chủ đề của văn bản. Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong hai dòng thơ: “Bâng khuâng cặp mắt đen tròn,/ Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn…”. Câu 5 (1,0 điểm). Văn bản trên cho gợi cho em những ấn tượng gì về tình cảm mà người cha dành cho người con của mình? Hướng dẫn giải: Câu 1 (0,5 điểm) Thể thơ: Song thất lục bát. Câu 2 (0,5 điểm) Nhân vật trữ tình: Người cha. Câu 3 (1,0 điểm) - Đề tài: Tình phụ tử. - Chủ đề: Tình yêu thương, sự lo lắng, niềm hi vọng mà người cha dành cho người con đang chiến đấu nơi xa. Câu 4 (1,0 điểm) - HS chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng: Đảo ngữ: “Bâng khuâng” đảo lên trước “cặp mắt đen tròn”, “Chắt chiu” đảo lên trước “tiếng chim non gọi đàn”. - HS phân tích tác dụng của biện pháp tu từ: + Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. + Nhấn mạnh bồi hồi, tình cảm yêu thương của người cha dành cho con đồng thời làm nổi bật sự quý trọng, nâng niu những âm thanh nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa sâu sắc như sự khao khát đoàn tụ hay tình yêu gia đình. + Khắc họa tâm trạng nhớ thương, da diết của nhân vật trữ tình dành cho người con. Câu 5 (1,0 điểm) - Tình cảm mà người cha dành cho con được thể hiện qua các chi tiết sau: + Nhìn các cửa hàng bày bán quần áo trẻ con thì trong lòng dâng lên nỗi nhớ con khôn nguôi. + Mua cho con chiếc áo nhưng phiền muộn, đau lòng vì hai miền cách trở, chẳng thể gửi tấm áo cho con. + Ôm tấm áo mà mường tượng được ôm con, mong nhớ về con khôn nguôi. + Gửi gắm tình yêu, hi vọng nơi con qua hình chim thêu, mong mỏi về một ngày hòa bình, đất nước thống nhất, hòa bình, gia đình đoàn tụ, các con được thỏa thích hồn nhiên vui chơi. - Nhận xét về tình cảm của người cha: Người cha có tình yêu thương con da diết, luôn nhớ thương, lo lắng cho con trong hoàn cảnh mỗi người ở một phương trời xa cách. Câu 1 Thể thơ: Song thất lục bát. Câu 2 Nhân vật trữ tình: Người cha. Câu 3 - Đề tài: Tình phụ tử. - Chủ đề: Tình yêu thương, sự lo lắng, niềm hi vọng mà người cha dành cho người con đang chiến đấu nơi xa. Câu 4 - HS chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng: Đảo ngữ: “Bâng khuâng” đảo lên trước “cặp mắt đen tròn”, “Chắt chiu” đảo lên trước “tiếng chim non gọi đàn”. - HS phân tích tác dụng của biện pháp tu từ: + Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. + Nhấn mạnh bồi hồi, tình cảm yêu thương của người cha dành cho con đồng thời làm nổi bật sự quý trọng, nâng niu những âm thanh nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa sâu sắc như sự khao khát đoàn tụ hay tình yêu gia đình. + Khắc họa tâm trạng nhớ thương, da diết của nhân vật trữ tình dành cho người con. Câu 5 - Tình cảm mà người cha dành cho con được thể hiện qua các chi tiết sau: + Nhìn các cửa hàng bày bán quần áo trẻ con thì trong lòng dâng lên nỗi nhớ con khôn nguôi. + Mua cho con chiếc áo nhưng phiền muộn, đau lòng vì hai miền cách trở, chẳng thể gửi tấm áo cho con. + Ôm tấm áo mà mường tượng được ôm con, mong nhớ về con khôn nguôi. + Gửi gắm tình yêu, hi vọng nơi con qua hình chim thêu, mong mỏi về một ngày hòa bình, đất nước thống nhất, hòa bình, gia đình đoàn tụ, các con được thỏa thích hồn nhiên vui chơi. - Nhận xét về tình cảm của người cha: Người cha có tình yêu thương con da diết, luôn nhớ thương, lo lắng cho con trong hoàn cảnh mỗi người ở một phương trời xa cách. Bài 2 Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích ba khổ thơ cuối của văn bản ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm). Có ý kiến cho rằng: Tình yêu thương của cha mẹ có thể là động lực nhưng cũng có thể là áp lực cho con cái. Từ góc độ của một người con, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên. Hướng dẫn giải: Câu 1 (2,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): - Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. - Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích ba khổ thơ cuối của văn bản ở phần Đọc hiểu. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0,5 điểm): - Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Nội dung: Nỗi lòng nhớ thương con của người cha trong xa cách: ++ Nhớ hình bóng con trong nghẹn ngào, thương con sống trong hoàn chia cắt: Ba ôm tấm áo xanh giữa ngực. Người cha như nghe được nhịp đập trái tim con qua tấm áo. Điều này cho thấy tình cảm cha con gần gũi, chan chứa, dù có khoảng cách địa lý hoặc thời gian. ++ Bồi hồi nhớ cặp mắt đen tròn - sự hồn nhiên, trong sáng của con. Tiếng con như tiếng chim non gọi đàn, âm thanh ấy giờ chỉ còn là kí ức vẳng xa. Âm thanh ấy cũng thể hiện khát khao gia đình đoàn tụ của người cha. ++ Gửi hi vọng về ngày mai trong chiếc áo cho con: Ngày mai ấy, nước non một khối, để vừa thỏa nỗi nhớ con, vừa mong sớm ngày đoàn tụ, hình dung mai này đất nước thống nhất, các con thơ hạnh phúc, sum vầy. ++ Hình ảnh áo thêu chim trắng trở thành biểu tượng của niềm tin, hi vọng vào tương lai tốt đẹp. => Nỗi lòng nhớ con được người cha gửi gắm vào thơ như những nỗi niềm yêu thương, mong ước, như một cách lưu giữ kí ức và động viên chính mình. + Nghệ thuật: ++ Thể thơ song thất lục bát (câu thơ, nhịp thơ, giọng thơ, gieo vần....); kết hợp các biện pháp tu từ, tạo nên âm hưởng buồn thương, nhung nhớ. ++ Hình ảnh thơ mộc mạc, giản dị nhưng mang đầy tính biểu tượng. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0,5 điểm): - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn. e. Sáng tạo (0,25 điểm): Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2 (4,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm): Nghị luận xã hội. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): Tình yêu thương của cha mẹ dành cho con cái có thể vừa là động lực, vừa là áp lực. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm): - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Triển khai vấn đề nghị luận: + Giải thích: ++ Tình yêu thương là sự quan tâm, chăm sóc đối với những người xung quanh. ++ Động lực là những nhân tố thúc đẩy mỗi cá nhân cố gắng, nỗ lực thực hiện nhiệm vụ của mình để đạt mục tiêu đã đề ra. ++ Áp lực là những yếu tố khiến con người sống trong sự đè nén, mệt mỏi khiến trạng thái tinh thần con người rơi vào tình trạng tồi tệ nhất. => Tình yêu thương của cha mẹ là sự quan tâm, chăm sóc đôi khi là sự kì vọng vào con cái. Điều đó có thể tạo cho con động lực để phát triển, hoàn thiện nhưng cũng có thể vô hình tạo ra những áp lực cho con cái. + Bàn luận: HS thể hiện quan điểm cá nhân (đồng tình hoặc không đồng tình), giải thích và đưa ra dẫn chứng một cách hợp lý. Có thể theo một số gợi ý sau: ++ Tình yêu thương của cha mẹ tạo động lực cho con: +++ Tình yêu thương của cha mẹ giúp con cảm thấy yên tâm, vững vàng hơn hơn trong cuộc sống. +++ Tình yêu thương của cha mẹ khiến con có cảm giác được động viên, khích lệ, từ đó tạo động lực cố gắng, phấn đấu tốt hơn. +++ Tình yêu thương của cha mẹ cũng chính là điểm tựa giúp con vững bước vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống, là liều thuốc xoa dịu những lúc con đau buồn, thất bại,… ++ Tình yêu thương của cha mẹ vô tình tạo những áp lực cho con: +++ Cha mẹ yêu thương và kì vọng quá vào năng lực của con sẽ gây cho con căng thẳng, mệt mỏi, lo sợ khi không làm cha mẹ hài lòng. +++ Tình yêu thương quá lớn đôi khi tạo ra sự kiểm soát, áp đặt khiến con cái cảm thấy áp lực, khó chịu, có thể nảy sinh sự đối phó và những lời nói dối,… + Giải pháp: ++ Con cái cần học cách đón nhận và trân trọng tình yêu thương của cha mẹ. ++ Cha mẹ cùng cần học cách yêu thương con sao cho phù hợp, thường xuyên chia sẻ để thấu hiểu mong muốn, tâm lí của con. + Khẳng định lại quan điểm của bản thân: ++ Sự khác biệt về thế hệ dễ dẫn đến sự bất đồng quan điểm, vì vậy con cái cần chia sẻ những mong muốn cá nhân để cha mẹ thấu hiểu. Cha mẹ cũng lắng nghe ý kiến của con để dung hòa, tạo không khí gia đình hạnh phúc, đầm ấm. ++ Con cái cần đặt ra mục tiêu và xây dựng kế hoạch thực hiện; chứng minh năng lực và quyết tâm của bản thân thông qua hành động cụ thể. Cha mẹ nhận rõ năng lực của con để động viên, khích lệ, có hướng phát triển cho phù hợp,… * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm): - Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. Lưu‎ ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. đ. Diễn đạt (0,25 điểm): Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong bài văn. e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 1 Thể thơ: Song thất lục bát. Câu 2 Nhân vật trữ tình: Người cha. Câu 3 - Đề tài: Tình phụ tử. - Chủ đề: Tình yêu thương, sự lo lắng, niềm hi vọng mà người cha dành cho người con đang chiến đấu nơi xa. Câu 4 - HS chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng: Đảo ngữ: “Bâng khuâng” đảo lên trước “cặp mắt đen tròn”, “Chắt chiu” đảo lên trước “tiếng chim non gọi đàn”. - HS phân tích tác dụng của biện pháp tu từ: + Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. + Nhấn mạnh bồi hồi, tình cảm yêu thương của người cha dành cho con đồng thời làm nổi bật sự quý trọng, nâng niu những âm thanh nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa sâu sắc như sự khao khát đoàn tụ hay tình yêu gia đình. + Khắc họa tâm trạng nhớ thương, da diết của nhân vật trữ tình dành cho người con. Câu 5 - Tình cảm mà người cha dành cho con được thể hiện qua các chi tiết sau: + Nhìn các cửa hàng bày bán quần áo trẻ con thì trong lòng dâng lên nỗi nhớ con khôn nguôi. + Mua cho con chiếc áo nhưng phiền muộn, đau lòng vì hai miền cách trở, chẳng thể gửi tấm áo cho con. + Ôm tấm áo mà mường tượng được ôm con, mong nhớ về con khôn nguôi. + Gửi gắm tình yêu, hi vọng nơi con qua hình chim thêu, mong mỏi về một ngày hòa bình, đất nước thống nhất, hòa bình, gia đình đoàn tụ, các con được thỏa thích hồn nhiên vui chơi. - Nhận xét về tình cảm của người cha: Người cha có tình yêu thương con da diết, luôn nhớ thương, lo lắng cho con trong hoàn cảnh mỗi người ở một phương trời xa cách.

Câu 1:

Thể thơ: Tám chữ.

Câu 2:

Đề tài: Khung cảnh bến đò ngày mưa.

Câu 3:

phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ đó: + Nhân hóa: Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át; Vài quán hàng không khách đứng xo ro;... khiến cho sự vật hiện lên sinh động hơn. + So sánh: Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ/ Thúng đội đầu như đội cả trời mưa. Hình ảnh so sánh gợi lên trong tâm tưởng của bạn đọc khung cảnh ảm đạm, tiêu điều trong một ngày mưa ở bến đò. + Liệt kê: Chỉ ra những hình ảnh cảnh vật, con người trong ngày mưa tại bến đò, góp phần khắc họa chi tiết khung cảnh ảm đạm, tiêu điều ấy.

Câu 4:

– Bức tranh bến đò ngày mưa được tác giả miêu tả qua những hình ảnh: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ, quán hàng đứng xo ro, một bác lái ghé vào hút điếu, bà hàng sù sụ sặc hơi, ho, họa hoằn có người đến chợ, họa hoằn có con thuyền ghé chở, thúng đội đầu như đội cả trời mưa. – Những hình ảnh đó gợi cảm nhận về một khung cảnh ảm đạm, hoang vắng, tiêu điều.

Câu 5:

Bức tranh bến đò ngày mưa là một bức tranh vắng lặng, ảm đạm, đơn điệu và tẻ nhạt, ẩn chứa nỗi buồn man mác. Dù bức tranh cảnh vật có bóng dáng của con người nhưng hình ảnh con người đều ít ỏi, dường như chỉ là "một", "họa hoằn" mới xuất hiện; còn khi xuất hiện thì hầu hết con người đều trong trạng thái mệt mỏi, buồn lặng, càng tô đậm thêm sự đơn điệu, ảm đạm của cảnh vật. Như vậy, qua bức tranh này, bài thơ gợi lên nỗi buồn man mác, sự lạnh lẽo, cô đơn trước cuộc sống vắng lặng, tiêu điều nơi đây.

Câu 1:

Thể loại: Truyện truyền kì.

Câu 2:

Những chi tiết tưởng tượng kỳ ảo có trong văn bản: + Thần núi Đồng Cổ xuất hiện trong giấc mơ của Vua Lý Thái Tông, tự nhận là thần và xin đi theo vua lập công. + Thần núi Đồng Cổ báo mộng cho Vua biết âm mưu phản loạn của các vương.

Câu 3:

Sự việc chính của văn bản: + Thần núi Đồng Cổ báo mộng giúp Lý Thái Tông lập chiến công và giải trừ âm mưu phản loạn của ba vương. + Lê Phụng Hiểu được giao nhiệm vụ dẹp loạn và đã thành công, giết chết Vũ Đức Vương, làm tan rã quân phản loạn. + Thần núi Đồng Cổ được vua phong làm “Thiên hạ Minh Chủ” và dân chúng thờ phụng.

Câu 4:

Việc hai lần Vua Lý Thái Tông mơ gặp thần núi Đồng Cổ có ý nghĩa: + Thể hiện niềm tin vào sự phù trợ của thần linh trong việc bảo vệ quốc gia và quyền lực của nhà vua. + Gắn kết quyền lực của vua với yếu tố thiêng liêng, nhằm củng cố tính chính danh và sự trung thành của bề tôi cũng như dân chúng.

Câu 5:

Chủ đề: Đề cao lòng trung thành và công lao của các anh hùng chống loạn, bảo vệ đất nước.

Câu 1:

– Thể thơ: Tám chữ.

Câu 2:

– Những vần được gieo trong bài thơ: "ong" – "sóng", "đồng", "rong"; "oc" – "học", "nhọc"; "o" – "nhỏ", "ngõ".

Câu 3:

– Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: Nhân hoá.

– Tác dụng: Giúp hình ảnh quê hương hiện lên chân thực, sinh động và có hồn hơn. Ở đây, biện pháp tu từ nhân hoá không chỉ gợi lên sự khắc nghiệt, khó khăn của một vùng quê miền biển nghèo khó, thiếu thốn (Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc) mà còn thổi vào những sự vật của quê hương – lúa, ngô – hồn người biết khát khao, trăn trở, hi vọng về một tương lai tươi sáng, tốt đẹp.

Câu 4:

– Những dòng thơ miêu tả không gian quê hương trong bài thơ: Cát thường cuốn vào ngôi trường tôi học; Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc; Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi; Thổi không ngơi cơn gió sạm da người; Những nẻo đường rát bỏng bàn chân nhỏ; Sông mùa lũ nước bò vào tận ngõ; Chim hải âu với cò bợ chung đàn.

– Nhận xét: Qua những hình ảnh trên, tác giả đã khắc hoạ một cách chân thực không gian quê hương – một vùng quê miền biển đầy nắng, gió với biết bao thiếu thốn, gian khổ như đất mặt, gió nóng, lũ lụt, cây cối khó sinh trưởng,… Song, mảnh đất này cũng là nơi chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, khát vọng, lí tưởng của nhân vật trữ tình. Vì thế, qua việc khắc hoạ không gian quê hương, tác giả cũng thể hiện sự xúc động, tri ân đối với quê hương của mình.

Câu 4:

– Những dòng thơ miêu tả không gian quê hương trong bài thơ: Cát thường cuốn vào ngôi trường tôi học; Đất quê mặn nuôi ước mơ khó nhọc; Lúa ngô thèm màu xanh mướt, khôn nguôi; Thổi không ngơi cơn gió sạm da người; Những nẻo đường rát bỏng bàn chân nhỏ; Sông mùa lũ nước bò vào tận ngõ; Chim hải âu với cò bợ chung đàn.

– Nhận xét: Qua những hình ảnh trên, tác giả đã khắc hoạ một cách chân thực không gian quê hương – một vùng quê miền biển đầy nắng, gió với biết bao thiếu thốn, gian khổ như đất mặt, gió nóng, lũ lụt, cây cối khó sinh trưởng,… Song, mảnh đất này cũng là nơi chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, khát vọng, lí tưởng của nhân vật trữ tình. Vì thế, qua việc khắc hoạ không gian quê hương, tác giả cũng thể hiện sự xúc động, tri ân đối với quê hương của mình.

Câu 5:

– Từ nội dung của bài thơ, ta thấy quê hương không chỉ đơn thuần là nơi chôn rau cắt rốn mà còn lại nguồn cội nuôi dưỡng cả tâm hồn và thể chất mỗi con người.

– Từ nội dung trên, học sinh nêu cảm nhận, suy nghĩ của mình về ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người. Có thể theo hướng: Quê hương là nơi lưu giữ những kỉ niệm khó phai; là điểm tựa tinh thần cho mỗi con người; giúp con người can đảm vượt ra mọi trở ngại trong cuộc sống;…

Câu 1:

- Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ nhất, nhân vật “tôi” là người kể chuyện.

– Việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất giúp cho câu chuyện trở nên chân thực hơn, người đọc cảm thấy như đang trực tiếp tham gia vào câu chuyện. Không chỉ thế, việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất còn giúp người kể chuyện – nhân vật “tôi” dễ dàng bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ, thái độ của mình xoay quanh những sự việc được kể. Lựa chọn ngôi kể thứ nhất cũng là một trong những yếu tố góp phần làm nổi bật bài học sâu sắc về lời ăn tiếng nói trong cuộc sống – chủ đề của đoạn trích này.

Câu 2:

Một chi tiết trong truyện thể hiện sự yêu quý của mọi người dành cho con nhồng: Người lớn hay trẻ nhỏ hàng xóm, mỗi lần đến chơi với nó cũng cho nó một trái ớt.

Câu 3:

– Cách dẫn trực tiếp.

– Dấu hiệu:

+ Người viết trích nguyên văn lời nói của con nhồng.

+ Lời nói được đặt vào dấu ngoặc kép.

Câu 4:

– Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng lời nói không chỉ thể hiện suy nghĩ mà còn có thể gây ra hậu quả. Con nhồng vô tư lặp lại những lời người khác dạy mà không nhận thức được ý nghĩa, dẫn đến tai họa. Điều này nhắc nhở ta không nên nói theo người khác một cách thiếu suy nghĩ.

– Qua câu chuyện, tác giả Nguyễn Quang Sáng gửi gắm bài học sâu sắc về sự cẩn trọng trong lời nói.

– Đây là những bài học có ý nghĩa bởi nó giúp ta có những nhận thức đúng đắn hơn về giá trị của lời nói trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó có những hành động đúng đắn giúp cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp.

– Thiết nghĩ bài học này không chỉ có ý nghĩa với cá nhân mỗi người mà còn hữu ích với tất cả cộng đồng, cả xã hội.

Câu 5:

– Trong truyện ngắn “Con chim quên tiếng hót”, ở phần cuối truyện, người bà đã dặn các cháu của mình rằng: “Cho nên, biết thì nói, không biết thì đừng nói theo lời người khác, chết oan đó, các con!”.

– Tôi hoàn toàn đồng ý với lời dặn của người bà bởi đây là một lời khuyên sâu sắc về sự cẩn trọng trong lời nói.

– Trước hết, lời dặn này nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của nhận thức trong giao tiếp. Một lời nói thiếu suy nghĩ có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, giống như con nhồng vì lặp lại lời người khác mà phải nhận lấy cái chết oan uổng.

– Nếu chúng ta cẩn trọng trong lời nói, chỉ nói khi thực sự hiểu rõ, thì sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc, đồng thời xây dựng được lòng tin trong giao tiếp. Mọi người sẽ tôn trọng và lắng nghe những lời nói có suy nghĩ, từ đó tạo ra môi trường giao tiếp lành mạnh.

– Ngược lại, nếu ta chỉ nói theo người khác mà không suy xét, ta có thể vô tình gây tổn thương cho người khác hoặc tự rước họa vào thân. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn gây bất ổn trong xã hội, tạo nên những hiểu lầm, xung đột không đáng có.

– Vậy nên, mỗi người cần suy nghĩ trước khi phát ngôn, không nói những điều chưa rõ đúng sai. Sự cẩn trọng trong lời nói không chỉ giúp ta tránh sai lầm mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh và hiểu biết hơn.

Câu 1: Chủ đề của bài thơ: Tình cảm gắn bó sâu nặng, nỗi nhớ da diết dành cho quê hương – nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có cha mẹ và là nơi lưu giữ những ký ức thân thương.

Câu 2: Hình ảnh quê hương được tác giả nhắc đến qua những từ ngữ, hình ảnh: Cỏ lau trắng, khúc hát mẹ ru, những cánh đồng, hạt gạo thảo thơm, ngô lúa đơm bông, cánh cò, bát chè xanh,…

Câu 3: Tác dụng của biện pháp điệp ngữ “Có một miền”: Nhấn mạnh sự tồn tại vĩnh cửu của quê hương trong tâm trí của người con xa quê. Nhấn mạnh tình yêu thương, niềm nhớ da diết của “tôi” dành cho quê hương. Tạo nên sự liên kết, mạch lạc giữa các khổ thơ. Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng cho các dòng thơ.

Câu 4: “Áo bạc sờn trong nắng chiều vời vợi”: Thể hiện sự vất vả, lam lũ của người cha. “Áo bạc sờn” là hình ảnh gợi sự mệt mỏi, tần tảo trong công việc đồng áng. “Mồ hôi cha mặn cả những cánh đồng”: Nhấn mạnh sự gian khổ, nhọc nhằn mà cha phải trải qua để nuôi con lớn khôn. Hình ảnh mồ hôi của cha tuôn như mưa “mặn cả những cánh đồng” cho thấy hình ảnh người cha bán mặt cho đất bán lưng cho trời đã cực nhọc nhiều năm. Hai dòng thơ không đơn thuần chỉ là miêu tả hình ảnh người cha hay công việc lao động vất vả của cha mà qua đó còn ẩn ý về tình thương của cha dành cho con. Đặc biệt, những lời thơ dạt dào cảm xúc cũng chính là tình cảm thương yêu, kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc của người con dành cho cha.

Câu 5: Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. Dung lượng: Ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. Người trẻ cần có trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước trong thời đại nhiều biến động thông qua những hành động thiết thực như: giữ gìn bản sắc văn hóa, có lòng tự tôn dân tộc, gìn giữ lãnh thổ, chủ quyền biển đảo thông qua những hoạt động tuyên truyền,…. Người trẻ còn cần phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo, làm giàu cho quê hương và đất nước bằng những hành động thiết thực trong cuộc sống hàng ngày.

Câu 1: Nhân vật "Tôi" là nhân vật trữ tình.

Câu 2: Sự lạc quan: Cái "nhìn nhau" xuyên qua những gương mặt lấm lem bụi đường cho thấy tinh thần đồng đội gắn kết và thái độ bất chấp gian khổ.

Câu 3: Cảm xúc đó là niềm vui hân hoan, nỗi buồn man mác, lòng yêu quê hương đất nước sâu nặng hay sự hoài niệm về quá khứ.

Câu 4: Câu hỏi tu từ ở đây đóng vai trò là "nhịp cầu" nối liền quá khứ và hiện tại, nối liền cái tôi cá nhân với cái ta chung của những người con xa quê. Nó khiến bài thơ không chỉ là tả cảnh, tả tình mà còn là tiếng lòng thổn thức của một tâm hồn hào hoa, lãng mạn giữa thời chiến.