Nguyễn Việt Hưng
Giới thiệu về bản thân
câu 1 bài thơ được viết theo thể thơ tự do
câu 2 đây là cuộc gặp gỡ giữa người chiến sĩ và một bà mẹ nông dân nghèo ở vùng đồng chiêm.Cuộc gặp gỡ diễn ra trong hoàn cảnh người chiến sĩ ghé vào xin nghỉ trọ tại nhà mẹ giữa đêm tối. Dù nhà mẹ hẹp, thiếu thốn chăn chiếu, nhưng tấm lòng nồng hậu của mẹ khi ôm rơm lót ổ cho anh nằm đã tạo nên một không khí gia đình vô cùng gần gũi.Cảm xúc của nhân vật tôi là sự xúc động, biết ơn trước tình thương giản dị mà cao cả của mẹ, đồng thời là sự trân trọng những giá trị mộc mạc của quê hương
câu 3 biện pháp nghệ thuật nhân hóa và so sánh và nhân hóa
so sánh là hơn nhiều,nhân hóa là xơ xác gầy gò
tác dụng:
làm nổi bật giá trị của tình người.
Gợi sự thấu hiểu và sẻ chia
Tăng sức biểu cảm
câu 4
sự bình dị lam lũ: Là hình ảnh thực tế của làng quê nghèo, gắn liền với cuộc đời tần tảo, "xơ xác gầy gò" của người mẹ nông dân
biểu tượng của tình thương: Là "tổ ấm" kết tinh từ tấm lòng nồng hậu, sự che chở và chăm chút của mẹ dành cho người chiến sĩ
: hơi ấm của quê hương :Mang hương vị mộc mạc của đồng ruộng, tượng trưng cho những giá trị tinh thần cao quý, ấm nồng như lửa mà vật chất (chăn đệm) không thay thế được
câu 5
Tình yêu thương vô bờ bến của người mẹ nông dân nghèo dành cho người chiến sĩ (như con đẻ của mình).
Sự xúc động của người lính khi tìm thấy hơi ấm và sự che chở từ những điều bình dị, mộc mạc nhất của quê hương (ổ rơm, hương lúa).
Triết lý về những giá trị tinh thần cao quý: Cái ấm của tình người nồng nàn như lửa là thứ vô giá, không gì có thể thay thế hay so sánh được
câu 6
bài thơ Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy đã để lại trong lòng người đọc những dư âm ngọt ngào về tình mẫu tử và tình quân dân thắm thiết. Qua hình ảnh ổ rơm xơ xác nhưng nồng nàn hương mật ong của ruộng, em cảm nhận được tấm lòng bao dung, hiền hậu của người mẹ nông dân dành cho anh bộ đội. Dù hoàn cảnh chiến tranh thiếu thốn, nhà mẹ hẹp và chăn chẳng đủ, nhưng sự chăm chút "ôm rơm lót ổ" lại mang đến hơi ấm sâu đậm hơn bất cứ chăn đệm sang trọng nào. Những vần thơ mộc mạc ấy không chỉ ca ngợi sự hy sinh thầm lặng của những bà mẹ Việt Nam mà còn nhắc nhở chúng ta về lòng biết ơn đối với những giá trị bình dị của quê hương. Đọc bài thơ, em thêm trân trọng những điều giản đơn nhưng chứa đựng sức mạnh tinh thần to lớn, sưởi ấm tâm hồn con người giữa những gian lao
viết
bài làm
Thạch Lam là cây bút tinh tế của nhóm Tự lực văn đoàn, người luôn hướng ngòi bút về những mảnh đời bình dị, những rung động mong manh và sâu kín của tâm hồn con người. Truyện ngắn "Trở về" là một tác phẩm đầy ám ảnh, phơi bày sự rạn nứt trong tình cảm gia đình trước sức mạnh của lối sống thành thị. Qua đoạn trích về cuộc gặp gỡ giữa Tâm và mẹ sau sáu năm xa cách, tác giả đã dựng lên một bức tranh tương phản gay gắt giữa lòng vị tha cao cả và sự tha hóa lạnh lùng.
Mở đầu đoạn trích, khung cảnh làng quê hiện lên qua lăng kính của Tâm đầy sự xa lạ và cũ kỹ. Ngôi nhà tranh "sụp thấp hơn", "mái gianh xơ xác" không gợi cho anh sự bồi hồi của kẻ ly hương trở về, mà chỉ là cảm giác về sự nghèo khổ, tiêu điều. Sự tĩnh lặng của sân nhà đối lập hoàn toàn với sự xô bồ, náo nhiệt nơi thành thị mà Tâm đang sống. Ngay cả tiếng guốc của mẹ – âm thanh thân thuộc của tuổi thơ – giờ đây cũng khiến Tâm thấy nặng nề. Hình ảnh người mẹ già hiện ra với bộ áo cũ kỹ, đôi mắt ứa lệ khi nhận ra con đã khắc họa nỗi chờ mong mòn mỏi suốt sáu năm trời. Tình mẫu tử của bà vẫn nguyên vẹn, bao dung và nhẫn nại qua dòng thời gian đằng đẵng.
Tuy nhiên, tâm điểm của đoạn trích chính là sự tha hóa đến đáng sợ trong nhân cách của Tâm. Sáu năm sống nơi phồn hoa, được học tập và có gia đình riêng, Tâm đã hoàn toàn rũ bỏ gốc gác. Cách anh xưng hô "tôi - bà" đầy khách sáo, lạnh lùng như với một người xa lạ. Những câu hỏi han sức khỏe của mẹ chỉ khiến anh thấy "khó khăn mới ra khỏi miệng". Tâm dửng dưng trước những câu chuyện làng xóm, dửng dưng trước sự hy sinh của cô Trinh – người đã thay anh chăm sóc mẹ già. Với Tâm, đời sống giàu sang hiện tại của anh là một thế giới khác, không có điểm chung và "không có liên lạc gì" với sự ẩm thấp, nghèo nàn nơi quê cũ. Sự tha hóa ấy đạt đến đỉnh điểm khi anh lấy ví đưa cho mẹ bốn tấm giấy bạc với thái độ "kiêu ngạo". Tâm lầm tưởng rằng tiền bạc có thể thay thế cho đạo hiếu, rằng những tờ giấy bạc lạnh lẽo có thể bù đắp cho sáu năm mất hút không một lời hỏi thăm.
Trái ngược với đứa con "thành đạt" nhưng rỗng tuếch về tâm hồn, người mẹ hiện lên như một biểu tượng của tình yêu thương vô điều kiện. Bà không một lời trách móc, không nhắc đến những bức thư không hồi âm hay sự biệt tăm của con. Bà chỉ lo lắng khi nghe tin con ốm, tự trách mình "quê mùa" không biết đường lên tỉnh. Tấm lòng của bà cụ thật đáng trân trọng: bà "run run" nhận tiền, "rơm rớm nước mắt" không phải vì mừng rỡ trước vật chất, mà vì sự xúc động của một người mẹ được gặp lại khúc ruột của mình. Sự ấm áp, nồng hậu của bà đối lập chan chát với sự vội vàng, lơ đãng và cái nhún vai coi thường của Tâm.
Về nghệ thuật, Thạch Lam đã rất thành công khi khai thác những biến chuyển tâm lý tinh tế qua ngôn ngữ đối thoại và cử chỉ. Sự đối lập giữa không gian ẩm thấp của ngôi nhà quê với vẻ sang trọng của nhân vật Tâm, giữa sự săn sóc âu yếm của mẹ với thái độ "trả lời qua loa" của con đã tạo nên sức công phá mạnh mẽ vào cảm xúc người đọc. Lối viết trữ tình, nhẹ nhàng nhưng ẩn chứa sự phê phán sâu sắc đối với lối sống thực dụng, ích kỷ đang làm xói mòn những giá trị đạo đức truyền thống.
Tóm lại, đoạn trích "Trở về" là một bài học nhân sinh đắt giá về cội nguồn và lòng hiếu thảo. Thạch Lam đã khéo léo nhắc nhở chúng ta rằng: Sự thành đạt về vật chất sẽ trở nên vô nghĩa nếu con người đánh mất đi trái tim và sự thấu cảm với những người thân yêu. Hình ảnh người mẹ đứng lặng lẽ nơi sân nhà nhìn theo bóng con vội vã ra đi sẽ mãi là một nốt lặng buồn, thức tỉnh lương tri của mỗi người về hai chữ "gia đình".