Nguyễn Hàn Thủy
Giới thiệu về bản thân
Thạch Lam là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, nổi bật với lối viết nhẹ nhàng, tinh tế và giàu chất trữ tình. Truyện ngắn “Trở về” của Thạch Lam là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện sâu sắc những rung động nội tâm của con người khi đối diện với quá khứ và quê hương. Đoạn trích trong tác phẩm không chỉ khắc họa tâm trạng nhân vật mà còn gợi lên nhiều suy ngẫm về ý nghĩa của sự trở về.
Trước hết, đoạn trích thể hiện rõ nét tâm trạng bâng khuâng, xúc động của nhân vật khi trở lại nơi chốn cũ. Sau một thời gian xa cách, hình ảnh quê hương hiện lên vừa quen thuộc vừa xa lạ. Những cảnh vật tưởng chừng như không đổi nhưng lại mang một sắc thái khác bởi sự thay đổi trong cảm nhận của con người. Thạch Lam đã rất tinh tế khi miêu tả những chi tiết nhỏ như con đường, mái nhà, hay không khí yên tĩnh của làng quê. Tất cả đều gợi nên một cảm giác hoài niệm sâu sắc, khiến nhân vật như sống lại những ký ức đã qua. Chính sự giao thoa giữa hiện tại và quá khứ đã làm nổi bật nỗi lòng man mác buồn, một nỗi buồn rất đặc trưng trong văn chương Thạch Lam.
Bên cạnh đó, đoạn trích còn thể hiện sự thay đổi trong nhận thức và tâm hồn của nhân vật. Trở về không chỉ là hành động quay lại một không gian quen thuộc mà còn là hành trình trở về với chính mình. Nhân vật nhận ra rằng thời gian đã làm cho mọi thứ đổi thay, kể cả con người. Những kỷ niệm xưa dù đẹp đẽ nhưng không thể nguyên vẹn như trước. Điều này tạo nên một cảm giác hụt hẫng, tiếc nuối, nhưng đồng thời cũng giúp nhân vật trưởng thành hơn trong suy nghĩ. Thạch Lam không xây dựng những xung đột gay gắt mà tập trung khai thác chiều sâu nội tâm, qua đó thể hiện sự nhạy cảm và tinh tế trong cách nhìn đời.
Một điểm nổi bật khác của đoạn trích là giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất thơ. Thạch Lam sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh, tạo nên một không gian nghệ thuật đầy cảm xúc. Những câu văn chậm rãi, giàu nhạc điệu giúp người đọc dễ dàng hòa mình vào dòng cảm xúc của nhân vật. Chính lối viết này đã góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của những điều bình dị trong cuộc sống, đồng thời khơi gợi ở người đọc những suy tư sâu lắng về quê hương và ký ức.
Ngoài ra, đoạn trích còn gợi lên ý nghĩa sâu sắc về giá trị của quê hương trong tâm hồn con người. Dù đi xa đến đâu, quê hương vẫn là nơi lưu giữ những kỷ niệm thiêng liêng nhất. Sự trở về không chỉ giúp con người tìm lại quá khứ mà còn giúp họ nhận ra giá trị của hiện tại. Qua đó, Thạch Lam gửi gắm thông điệp rằng mỗi con người cần trân trọng những gì thuộc về cội nguồn, bởi đó chính là nền tảng tinh thần vững chắc trong cuộc sống.
Tóm lại, đoạn trích trong truyện ngắn “Trở về” của Thạch Lam là một bức tranh tâm trạng đầy tinh tế, thể hiện sâu sắc những cảm xúc của con người khi đối diện với ký ức và quê hương. Với lối viết giàu chất trữ tình và khả năng phân tích tâm lý nhân vật sâu sắc, Thạch Lam đã để lại trong lòng người đọc những dư âm nhẹ nhàng nhưng đầy ám ảnh. Tác phẩm không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nhắc nhở mỗi người về tầm quan trọng của sự trở về trong hành trình cuộc đời.
Câu 1. Thể thơ tự do.
Câu 2.
– Người bộc lộ cảm xúc: nhân vật “tôi” (người lính).
– Cuộc gặp gỡ giữa nhân vật “tôi” và bà cụ (một người mẹ Việt Nam anh hùng).
Câu 3.
– Biện pháp so sánh.
– Tác dụng:
+ Giúp người đọc hình dung sự ấm áp của “ổ rơm” do chính tay bà cụ chuẩn bị cho người lính, tuy đơn sơ nhưng ấm hơn cả chăn đệm. Qua đó, cho thấy được tình cảm yêu thương, che chở của bà mẹ Việt Nam anh hùng dành cho những người lính.
+ Giúp câu thơ gợi hình, gợi cảm, diễn đạt mượt mà hơn.
Câu 4.
– Học sinh nhận xét về hình ảnh “ổ rơm” trong bài thơ:
+ Hình ảnh chân thực, thân thuộc trong đời sống của những gia đình nghèo khó, lấy rơm lót ấm chỗ nằm khi không có chăn đệm.
+ Hình ảnh khơi gợi trong lòng tác giả tình yêu thương, sự biết ơn sâu sắc.
+ Hình ảnh thể hiện tình cảm yêu thương, sự bảo bọc, chở che của người mẹ Việt Nam anh hùng. Người mẹ luôn lo lắng, chăm sóc cho những chiến sĩ bằng tất cả những gì họ có, không ngại hiểm nguy.
Câu 5. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình cảm yêu thương, sự biết ơn sâu sắc của nhân vật “tôi” (người lính) dành cho bà mẹ Việt Nam đã giúp đỡ, cưu mang mình trong một lần lỡ đường giữa đồng chiêm.
Câu 6.
Học sinh trình bày cảm nhận của mình sau khi đọc bài thơ.
– Đảm bảo về hình thức của đoạn văn.
– Trình bày được cảm nhận của bản thân sau khi đọc bài thơ.
Một số biện pháp để tăng năng suất hệ sinh thái nông nghiệp mà không gây ô nhiễm môi trường:
- Tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học.
- Hạn chế sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học.
- Tăng cường sử dụng đạm sinh học bằng cách sử dụng phân bón vi sinh và luân canh các cây họ Đậu.
- Tăng cường bảo vệ các loài thiên địch.
- Tái sử dụng các loại rác thải hữu cơ.
a. Cận thị có thể do bẩm sinh cầu mắt dài hoặc do nhìn gần khi đọc sách hay làm việc trong ánh sáng yếu, thể thủy tinh điều tiết tăng độ cong để nhìn rõ, tình trạng này kéo dài dẫn đến thể thủy tinh bị phồng lên, giảm bớt hoặc không còn khả năng đàn hồi.
b. Biện pháp phòng chống tật cận thị:
- Làm việc, đọc sách, học bài ở nơi có ánh sáng thích hợp.
- Không đọc sách, xem điện thoại, ti vi, máy tính ở khoảng cách quá gần.
- Tư thế ngồi học hay làm việc ngay ngắn, không nằm đọc sách.
- Không nhìn màn hình điện thoại, máy tính hay đọc sách quá lâu gây mỏi mắt.
a. Mật độ cá thể của quần thể cá trắm cỏ trong hồ là: 915 : 15 = 61 con/ha.
b. Cá trắm cỏ trong hồ phân bố ngẫu nhiên vì chúng sống tập trung thành các nhóm nhỏ (từng đám sậy tản mát) trong hồ.
a. Các nguyên nhân gây mất cân bằng tự nhiên:
- Các hoạt động của con người:
- Phá rừng.
- Săn bắt động vật hoang dã.
- Khai thác tài nguyên quá mức.
- Chất thải sinh hoạt và công nghiệp gây ô nhiễm môi trường.
- Thảm họa thiên nhiên: động đất, hạn hán, khí hậu thay đổi đột ngột, núi lửa hoạt động,…
b. Nguyên nhân có tác động mạnh nhất gây mất cân bằng tự nhiên ở Việt Nam là hoạt động của con người (phá rừng, săn bắt động vật hoang dã, khai thác tài nguyên quá mức, ô nhiễm môi trường)
Tiêu chí phân biệt | Quần thể sinh vật | Quần xã sinh vật |
Thành phần loài | Một loài. | Nhiều loài. |
Đặc trưng cơ bản | - Kích thước của quần thể. - Mật độ cá thể của quần thể. - Tỉ lệ giới tính. - Thành phần nhóm tuổi. - Sự phân bố cá thể của quần thể. | - Độ đa dạng trong quần xã. - Thành phần các loài trong quần xã. |
Các mối quan hệ | Đơn giản: gồm mối quan hệ giữa các thể với môi trường sống và mối quan hệ giữa các cá thể cùng loài. | Phức tạp: gồm nhiều mối quan hệ đan xen. - Quan hệ giữa các cá thể với môi trường. - Quan hệ giữa các cá thể cùng loài. - Quan hệ giữa các cá thể khác loài. |
Ví dụ | Quần thể lúa sống trên cánh đồng. | Quần xã đồng ruộng. |
a. Các nhóm máu trong hệ nhóm máu ABO được xác định dựa vào kháng nguyên (A và B) trên bề mặt hồng cầu và kháng thể (α và β) trong huyết tương. Trong đó, α gây kết dính A và β gây kết dính B.
- Người 1: nhóm máu AB (có chứa A, B).
- Người 2: nhóm máu B (có chứa B).
- Người 3: nhóm máu A (có chứa A).
- Người 4: nhóm máu O (không có A, B).
b. Người thứ 4 (nhóm máu O) có thể truyền máu cho 3 người con lại.
Nhóm máu O không chứa kháng nguyên trong hồng cầu. Vì vậy khi truyền cho máu khác, không bị kháng thể trong huyết tương của máu nhận gây kết dính hồng cầu.
- Môi trường trên cạn: nấm linh chi, xương rồng, hươu cao cổ, chim bồ câu.
- Môi trường dưới nước: cá đuối, bạch tuộc.
- Môi trường trong đất: giun đất, dế trũi.
- Môi trường sinh vật: sâu đục thân, vi khuẩn E. coli.
Biện pháp để hệ sinh thái không bị ô nhiễm nặng hơn: đánh bắt bớt tôm và cá nhỏ hoặc thả thêm vào đầm một số cá dữ để ăn tôm và cá nhỏ → tạo điều kiện cho động vật phù du phát triển mạnh hơn để ăn vi khuẩn lam và tảo → ngăn chặn sự phát triển quá mức của tảo, vi khuẩn lam trong đầm.
Ngoài ra có thể hạn chế nguồn thức ăn của vi khuẩn lam và tảo bằng cách tháo nước, nạo vét bùn ở đáy đầm để loại bỏ bớt các chất gây ô nhiễm.