Phan Yến Nhi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phan Yến Nhi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1


Trong đoạn trích, diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi” vận động theo dòng hồi ức và những rung cảm tinh tế trước sự đổi thay của quê hương và con người. Trở lại làng, “tôi” mang trong mình cảm giác bâng khuâng, bất an khi nhận ra tiếng còi xe, nhạc băng ầm ĩ đã thay thế lời ru trưa hè – một nỗi tiếc nuối trước vẻ bình dị đang dần mất đi. Xen lẫn đó là niềm thương mẹ sâu sắc khi chứng kiến đôi bàn tay gầy guộc, lam lũ; là sự trân trọng không gian gia đình vẫn “bình lặng và an yên”. Cao trào cảm xúc dâng lên khi dì Lam trở về. Từ thảng thốt, ngỡ ngàng đến lặng lẽ quan sát, “tôi” nhận ra sự đổi thay trong ánh mắt dì – ánh mắt của người đàn bà từng trải, đã đi qua đau khổ để đạt đến bình tâm. Đặc biệt, trước giọt nước mắt của mẹ, “tôi” bối rối, suy tư về những mất mát và yêu thương sâu kín. Tâm trạng ấy cho thấy một cái nhìn trưởng thành, giàu chiêm nghiệm, góp phần làm nổi bật chủ đề về sự đổi thay của đời sống và sức mạnh nội tâm con người.


Câu 2

Trong những ngày cả nước hướng về lễ kỉ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi đã chứng kiến nhiều hình ảnh đẹp: dòng người trang nghiêm trong lễ chào cờ, những bạn trẻ mặc áo cờ đỏ sao vàng hát vang Quốc ca với niềm tự hào. Thế nhưng, xen giữa đó vẫn còn những hành vi thiếu văn hóa như chen lấn, xả rác, nói cười ồn ào nơi trang nghiêm. Điều ấy khiến tôi suy nghĩ nhiều về văn hóa ứng xử nơi công cộng của thế hệ trẻ hôm nay.


Văn hóa ứng xử nơi công cộng là cách con người thể hiện thái độ, hành vi phù hợp với chuẩn mực chung khi tham gia các hoạt động xã hội. Đó là sự tôn trọng không gian chung, tôn trọng người khác và tôn trọng chính mình. Một lời nói nhỏ nhẹ nơi tưởng niệm, một hành động xếp hàng trật tự, một việc nhặt rác bỏ đúng nơi quy định – những điều tưởng chừng nhỏ bé ấy lại phản ánh rõ nét nhân cách và ý thức công dân.

Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ ngày nay có ý thức tốt: chủ động nhường ghế cho người già trên xe buýt, tham gia các hoạt động tình nguyện, giữ gìn cảnh quan môi trường. Trong các sự kiện lớn, không ít bạn trẻ thể hiện niềm tự hào dân tộc bằng thái độ trang nghiêm, lịch sự. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một bộ phận chưa ý thức đầy đủ về hành vi của mình: chen lấn để chụp ảnh “check-in”, xả rác sau khi tham gia lễ hội, phát ngôn thiếu chuẩn mực trên mạng xã hội. Có người coi không gian công cộng như nơi riêng tư, sẵn sàng gây ồn ào mà không nghĩ đến người xung quanh.


Nguyên nhân của thực trạng ấy đến từ nhiều phía. Một số bạn trẻ chịu ảnh hưởng của lối sống thực dụng, đề cao cái tôi cá nhân mà xem nhẹ chuẩn mực cộng đồng. Sự thiếu quan tâm, giáo dục từ gia đình và nhà trường cũng góp phần hình thành những hành vi lệch chuẩn. Bên cạnh đó, tác động của mạng xã hội khiến một số người chạy theo “lượt thích”, sẵn sàng hành xử phản cảm để thu hút sự chú ý.


Văn hóa ứng xử nơi công cộng không phải điều gì xa vời, mà bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất. Là một học sinh, tôi nhận ra rằng mỗi người trẻ cần tự rèn luyện ý thức kỉ luật, học cách đặt mình vào vị trí của người khác trước khi hành động. Gia đình và nhà trường cần tăng cường giáo dục đạo đức, kĩ năng sống; xã hội cần có những chế tài phù hợp để nhắc nhở, uốn nắn kịp thời. Quan trọng hơn cả là mỗi người phải hiểu rằng: ứng xử văn minh không chỉ làm đẹp hình ảnh cá nhân mà còn góp phần xây dựng hình ảnh đất nước.


Một đất nước văn minh không chỉ được đo bằng những tòa nhà cao tầng hay tốc độ phát triển kinh tế, mà còn được phản chiếu qua cách con người cư xử với nhau nơi công cộng. Thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước – cần ý thức rõ trách nhiệm của mình. Khi biết sống có văn hóa, biết tôn trọng cộng đồng, chúng ta không chỉ giữ gìn truyền thống tốt đẹp mà còn góp phần làm cho xã hội ngày càng nhân văn và tiến bộ hơn.

Câu 1


Trong đoạn trích, diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi” vận động theo dòng hồi ức và những rung cảm tinh tế trước sự đổi thay của quê hương và con người. Trở lại làng, “tôi” mang trong mình cảm giác bâng khuâng, bất an khi nhận ra tiếng còi xe, nhạc băng ầm ĩ đã thay thế lời ru trưa hè – một nỗi tiếc nuối trước vẻ bình dị đang dần mất đi. Xen lẫn đó là niềm thương mẹ sâu sắc khi chứng kiến đôi bàn tay gầy guộc, lam lũ; là sự trân trọng không gian gia đình vẫn “bình lặng và an yên”. Cao trào cảm xúc dâng lên khi dì Lam trở về. Từ thảng thốt, ngỡ ngàng đến lặng lẽ quan sát, “tôi” nhận ra sự đổi thay trong ánh mắt dì – ánh mắt của người đàn bà từng trải, đã đi qua đau khổ để đạt đến bình tâm. Đặc biệt, trước giọt nước mắt của mẹ, “tôi” bối rối, suy tư về những mất mát và yêu thương sâu kín. Tâm trạng ấy cho thấy một cái nhìn trưởng thành, giàu chiêm nghiệm, góp phần làm nổi bật chủ đề về sự đổi thay của đời sống và sức mạnh nội tâm con người.


Câu 2

Trong những ngày cả nước hướng về lễ kỉ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi đã chứng kiến nhiều hình ảnh đẹp: dòng người trang nghiêm trong lễ chào cờ, những bạn trẻ mặc áo cờ đỏ sao vàng hát vang Quốc ca với niềm tự hào. Thế nhưng, xen giữa đó vẫn còn những hành vi thiếu văn hóa như chen lấn, xả rác, nói cười ồn ào nơi trang nghiêm. Điều ấy khiến tôi suy nghĩ nhiều về văn hóa ứng xử nơi công cộng của thế hệ trẻ hôm nay.


Văn hóa ứng xử nơi công cộng là cách con người thể hiện thái độ, hành vi phù hợp với chuẩn mực chung khi tham gia các hoạt động xã hội. Đó là sự tôn trọng không gian chung, tôn trọng người khác và tôn trọng chính mình. Một lời nói nhỏ nhẹ nơi tưởng niệm, một hành động xếp hàng trật tự, một việc nhặt rác bỏ đúng nơi quy định – những điều tưởng chừng nhỏ bé ấy lại phản ánh rõ nét nhân cách và ý thức công dân.

Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ ngày nay có ý thức tốt: chủ động nhường ghế cho người già trên xe buýt, tham gia các hoạt động tình nguyện, giữ gìn cảnh quan môi trường. Trong các sự kiện lớn, không ít bạn trẻ thể hiện niềm tự hào dân tộc bằng thái độ trang nghiêm, lịch sự. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một bộ phận chưa ý thức đầy đủ về hành vi của mình: chen lấn để chụp ảnh “check-in”, xả rác sau khi tham gia lễ hội, phát ngôn thiếu chuẩn mực trên mạng xã hội. Có người coi không gian công cộng như nơi riêng tư, sẵn sàng gây ồn ào mà không nghĩ đến người xung quanh.


Nguyên nhân của thực trạng ấy đến từ nhiều phía. Một số bạn trẻ chịu ảnh hưởng của lối sống thực dụng, đề cao cái tôi cá nhân mà xem nhẹ chuẩn mực cộng đồng. Sự thiếu quan tâm, giáo dục từ gia đình và nhà trường cũng góp phần hình thành những hành vi lệch chuẩn. Bên cạnh đó, tác động của mạng xã hội khiến một số người chạy theo “lượt thích”, sẵn sàng hành xử phản cảm để thu hút sự chú ý.


Văn hóa ứng xử nơi công cộng không phải điều gì xa vời, mà bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất. Là một học sinh, tôi nhận ra rằng mỗi người trẻ cần tự rèn luyện ý thức kỉ luật, học cách đặt mình vào vị trí của người khác trước khi hành động. Gia đình và nhà trường cần tăng cường giáo dục đạo đức, kĩ năng sống; xã hội cần có những chế tài phù hợp để nhắc nhở, uốn nắn kịp thời. Quan trọng hơn cả là mỗi người phải hiểu rằng: ứng xử văn minh không chỉ làm đẹp hình ảnh cá nhân mà còn góp phần xây dựng hình ảnh đất nước.


Một đất nước văn minh không chỉ được đo bằng những tòa nhà cao tầng hay tốc độ phát triển kinh tế, mà còn được phản chiếu qua cách con người cư xử với nhau nơi công cộng. Thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước – cần ý thức rõ trách nhiệm của mình. Khi biết sống có văn hóa, biết tôn trọng cộng đồng, chúng ta không chỉ giữ gìn truyền thống tốt đẹp mà còn góp phần làm cho xã hội ngày càng nhân văn và tiến bộ hơn.

câu 1

Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh thể hiện vẻ đẹp nhân cách cao cả của một vị lãnh tụ suốt đời vì dân vì nước. Qua lời thơ ngắn gọn mà hàm súc, Người tự nguyện từ chối những đãi ngộ vật chất dành cho mình, bộc lộ lối sống thanh bạch, giản dị và tinh thần trách nhiệm sâu sắc. “Tự miễn” không chỉ là hành động từ chối quyền lợi cá nhân mà còn là sự tự giác đặt lợi ích của nhân dân, của đất nước lên trên hết. Bài thơ cho thấy quan niệm sống cao đẹp: người cán bộ cách mạng phải luôn tự rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, tránh xa đặc quyền đặc lợi. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, chân thành nhưng chứa đựng sức thuyết phục lớn, thể hiện phong cách Hồ Chí Minh: giản dị mà sâu sắc. Qua đó, hình ảnh Bác hiện lên như một tấm gương đạo đức sáng ngời, suốt đời tận tụy phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Bài thơ không chỉ là lời tự nhắc nhở của riêng Người mà còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với mỗi cá nhân về lối sống khiêm nhường, liêm khiết và tinh thần cống hiến.

câu 2

Cuộc sống của mỗi con người không phải lúc nào cũng bằng phẳng, thuận lợi; trên hành trình trưởng thành, ai cũng phải đối diện với những thử thách. Chính những thử thách ấy lại mang ý nghĩa quan trọng, góp phần tôi luyện bản lĩnh và giúp con người trưởng thành hơn.

Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và nghị lực. Khi đứng trước khó khăn, con người buộc phải nỗ lực vượt qua, từ đó phát huy sức mạnh tiềm ẩn của bản thân. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người dễ trở nên thụ động, yếu đuối và thiếu khả năng thích nghi. Ngược lại, khi phải đối mặt với trở ngại, mỗi người sẽ học cách kiên trì, bền bỉ và dũng cảm. Chính quá trình vượt qua thử thách giúp ta trở nên mạnh mẽ hơn về tinh thần.

Không chỉ vậy, thử thách còn là cơ hội để con người nhận ra giá trị của bản thân và ý nghĩa của cuộc sống. Khi vượt qua một khó khăn, ta sẽ hiểu rõ hơn khả năng của mình, từ đó thêm tự tin vào tương lai. Thử thách cũng giúp ta trân trọng những thành quả đạt được, bởi những gì đạt được sau gian khó luôn mang giá trị bền vững hơn. Nhiều người thành công trong cuộc sống đều từng trải qua thất bại, vấp ngã; chính những trải nghiệm đó đã trở thành nền tảng để họ vươn lên mạnh mẽ. Như câu nói: “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, thử thách chính là thước đo bản lĩnh của mỗi con người.

Bên cạnh đó, thử thách còn giúp con người hoàn thiện nhân cách. Khi đối diện với khó khăn, ta học được sự kiên nhẫn, lòng khiêm tốn và tinh thần trách nhiệm. Thử thách cũng giúp ta biết sẻ chia, cảm thông với những người xung quanh, từ đó sống nhân ái và sâu sắc hơn. Một người chưa từng trải qua khó khăn thường khó thấu hiểu và đồng cảm với nỗi vất vả của người khác.

Tuy nhiên, thử thách chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người biết đối diện và vượt qua nó. Nếu sợ hãi, né tránh hay dễ dàng bỏ cuộc, thử thách sẽ trở thành rào cản khiến ta thụt lùi. Vì vậy, mỗi người cần có thái độ tích cực trước khó khăn: bình tĩnh, kiên trì và không ngừng nỗ lực. Đồng thời, cũng cần biết rút ra bài học từ thất bại để trưởng thành hơn.

Đối với học sinh, thử thách có thể là những áp lực học tập, những kỳ thi hay những vấp ngã đầu đời. Nếu biết nỗ lực và không ngừng cố gắng, mỗi thử thách sẽ trở thành bước đệm giúp ta tiến gần hơn đến ước mơ. Chính vì thế, hãy xem thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống, là cơ hội để hoàn thiện bản thân.

Tóm lại, thử thách có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự trưởng thành của mỗi con người. Nhờ có thử thách, ta học được cách sống mạnh mẽ, kiên cường và trân trọng giá trị của thành công. Hãy đón nhận thử thách bằng tinh thần lạc quan, bởi sau mỗi lần vượt qua, ta sẽ trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.

câu 1

- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Biểu cảm.

câu 2

Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt.

câu 3

- Biện pháp tu từ có trong đoạn thơ là ẩn dụ:

"Ví không có cảnh đông tàn

Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;"

- Tác dụng:

+ Tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ

+ Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

+ Cảnh đông tàn ẩn dụ cho những khó khăn thử thách, còn cảnh huy hoàng ngày xuân đại diện cho những vinh quang, những thành công

+ Qua đó tác giả muốn gửi gắm thông điệp để đạt đến thành công thì phải vượt qua những khó khăn thử thách

câu 4

- Đối với nhân vật trữ tình, tai ương trong bài thơ này là những gian nan, thử thách, là những chướng ngại vật để vượt qua, đồng thời là một cách rèn luyện tinh thần.

câu 5

Bài học trong bài thơ trên là thái độ sống tích cực và kiên cường. Khi gặp khó khăn, hãy coi đó là cơ hội để nâng tầm bản thân, bởi những thành công rực rỡ nhất thường đến sau những thử thách cam go nhất

câu 1:

Thể thơ: tám chữ.

câu 2

Một số từ ngữ từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh của biển đảo và đất nước: biển, sóng dữ, Hoàng Sa, Tổ quốc, màu cờ nước Việt, ngư dân,...

câu 3

 Biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong đoạn thơ:

Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta
Như máu ấm trong màu cờ nước Việt

Tác dụng:

+ Giúp tăng tính sinh động, gợi hình cho sự diễn đạt.

+ Khẳng định sự gắn bó của Tổ quốc đối với mỗi người dân Việt Nam.

+ Cho thấy tình yêu nồng nàn dành cho Tổ quốc của tác giả.

câu 4

Đoạn trích thể hiện tình yêu sâu nặng, niềm tự hào thiêng liêng về tổ quốc, lòng biết ơn, cảm phục sự hi sinh của những người dân, người lính bám biển, đồng thời bộc lộ ý thức trách nhiệm và tinh thần bảo vệ chủ quyền biển đảo,

câu 5

Biển đảo là một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, được gìn giữ bằng bao sự hi sinh của cha ông và người dân hôm nay. Trước hết, mỗi người trẻ cần nuôi dưỡng lòng yêu nước đúng đắn, hiểu rõ giá trị và chủ quyền biển đảo Việt Nam. bản thân em phải nghiêm túc học tập, trang bị tri thức để góp phần xây dựng đất nước vững mạnh. Đồng thời, cần lên tiếng bảo vệ sự thật lịch sử, phản đối các hành vi xâm phạm chủ quyền. Những việc làm nhỏ nhưng bền bỉ ấy chính là trách nhiệm thiết thực đối với biển đảo quê hương.



câu 1

Văn bản thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hoàn cảnh sống nơi đất khách , xa quê hương, giữa không gian thiên nhiên gợi nhớ quê nhà.

câu 2

Những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình ngỡ như quê ta: nắng, mây trắng, đỉnh núi nhuộm vàng, nắng xuống vào cây, soi tận lá.

câu 3

Cảm hứng chủ đạo của văn bản trên là nỗi nhớ quê hương da diết của người xa xứ, xen lẫn cảm giác lạc lõng nơi đất lạ.

câu 4

- Ở khổ thơ đầu, nắng vàng, mây trắng gợi cảm giác thân quen, ấm áp khiến nhân vật trữ tình tưởng như đang ở quê nhà

- Ở câu thứ ba, những hình ảnh ấy khơi dậy nỗi nhớ quê buồn sâu lắng, ý thức rõ thân phận xa quê,

câu 5

Ấn tượng nhất là hình ảnh " ngó xuống núi giày thì lữ thứ/ bụi đường cũng bụi của người ta" vì hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi, thể hiện rõ nỗi cô đơn, xa lạ và ý thức đau đáu về thân phận người xa quê.


câu 1

Văn bản thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hoàn cảnh sống nơi đất khách , xa quê hương, giữa không gian thiên nhiên gợi nhớ quê nhà.

câu 2

Những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình ngỡ như quê ta: nắng, mây trắng, đỉnh núi nhuộm vàng, nắng xuống vào cây, soi tận lá.

câu 3

Cảm hứng chủ đạo của văn bản trên là nỗi nhớ quê hương da diết của người xa xứ, xen lẫn cảm giác lạc lõng nơi đất lạ.

câu 4

- Ở khổ thơ đầu, nắng vàng, mây trắng gợi cảm giác thân quen, ấm áp khiến nhân vật trữ tình tưởng như đang ở quê nhà

- Ở câu thứ ba, những hình ảnh ấy khơi dậy nỗi nhớ quê buồn sâu lắng, ý thức rõ thân phận xa quê,

câu 5

Ấn tượng nhất là hình ảnh " ngó xuống núi giày thì lữ thứ/ bụi đường cũng bụi của người ta" vì hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi, thể hiện rõ nỗi cô đơn, xa lạ và ý thức đau đáu về thân phận người xa quê.