Phạm Quang Hà

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Quang Hà
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi” trong đoạn trích

Trong đoạn trích, diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi” được thể hiện tinh tế qua từng cung bậc cảm xúc. Ban đầu, “tôi” mang trong mình cảm giác hồi hộp, lo lắng, thậm chí có phần tự ti trước hoàn cảnh hoặc sự kiện đang diễn ra. Những suy nghĩ, trăn trở nội tâm khiến “tôi” trở nên nhạy cảm với mọi thay đổi xung quanh. Khi đối diện với sự vật, sự việc hoặc con người có ý nghĩa đặc biệt, tâm trạng “tôi” chuyển sang bối rối, xen lẫn niềm vui và sự xúc động. Đặc biệt, khi nhận ra giá trị của những điều giản dị, gần gũi, “tôi” cảm thấy hạnh phúc, biết ơn và trân trọng hơn cuộc sống. Diễn biến tâm trạng ấy không chỉ phản ánh chiều sâu nội tâm mà còn cho thấy sự trưởng thành, thức tỉnh trong nhận thức của nhân vật. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp về sự trân trọng những điều bình dị, về giá trị của cảm xúc chân thành trong cuộc sống.


Câu 2 (4,0 điểm): Nghị luận (khoảng 600 chữ) về văn hóa ứng xử nơi công cộng của thế hệ trẻ ngày nay

Trong xã hội hiện đại, văn hóa ứng xử nơi công cộng là thước đo quan trọng đánh giá ý thức và nhân cách của mỗi con người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trong những ngày cả nước tưng bừng kỉ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta càng tự hào về truyền thống dân tộc, càng nhận thấy rõ hơn vai trò của văn hóa ứng xử trong việc xây dựng hình ảnh con người Việt Nam văn minh, hiện đại.

Tuy nhiên, bên cạnh những câu chuyện đẹp về lòng yêu nước, sự đoàn kết, vẫn còn không ít hành vi ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng. Đó có thể là việc chen lấn, xô đẩy ở nơi đông người; nói chuyện lớn tiếng, thiếu tôn trọng không gian chung; xả rác bừa bãi, phá hoại của công; hay thậm chí là những hành động thiếu lịch sự trên mạng xã hội. Những hành vi ấy không chỉ làm xấu đi hình ảnh cá nhân mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng, gây mất trật tự, văn minh nơi công cộng.

Từ trải nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy rằng, mỗi người trẻ đều có thể góp phần xây dựng văn hóa ứng xử tốt đẹp bằng những hành động nhỏ nhưng ý nghĩa. Đó là việc xếp hàng trật tự khi mua vé, giữ gìn vệ sinh chung, nói lời cảm ơn, xin lỗi đúng lúc, hay đơn giản là mỉm cười thân thiện với người xung quanh. Những hành động ấy, dù nhỏ bé, nhưng lại lan tỏa giá trị tích cực, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, lịch sự.

Văn hóa ứng xử nơi công cộng không chỉ thể hiện trình độ nhận thức mà còn là biểu hiện của lòng tự trọng và trách nhiệm với cộng đồng. Thế hệ trẻ ngày nay cần nhận thức rõ rằng, mỗi hành động, lời nói của mình đều góp phần tạo nên diện mạo xã hội. Việc giữ gìn và phát huy văn hóa ứng xử không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam.

Để xây dựng văn hóa ứng xử nơi công cộng, ngoài ý thức tự giác của mỗi cá nhân, rất cần sự phối hợp của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục, nhắc nhở, xây dựng các chuẩn mực ứng xử phù hợp. Chỉ khi mỗi người trẻ đều ý thức được vai trò của mình, chúng ta mới có thể xây dựng một môi trường sống lành mạnh, văn minh, góp phần khẳng định vị thế của dân tộc trên trường quốc tế.

Tóm lại, văn hóa ứng xử nơi công cộng là yếu tố then chốt làm nên một xã hội phát triển bền vững. Thế hệ trẻ hãy là những người tiên phong, lan tỏa những giá trị tốt đẹp, góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam văn minh, hiện đại trong mắt bạn bè quốc tế.

Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định ngôi kể trong đoạn trích trên.

Trả lời:
Dấu hiệu để xác định ngôi kể là việc sử dụng đại từ nhân xưng “tôi” xuyên suốt đoạn trích. Nhân vật “tôi” xưng kể, trực tiếp kể lại câu chuyện và những cảm xúc, suy nghĩ của mình. Ngoài ra, các từ ngữ như “tôi trở lại”, “tôi ngẩng đầu lên”, “tôi thảng thốt”, “tôi dẫn dì”, “tôi nhớ dì Lam”,… đều thể hiện rõ đây là ngôi kể thứ nhất.


Câu 2. Liệt kê các chi tiết cho thấy sự thay đổi của làng quê nơi nhân vật “tôi” sống.

Trả lời:

  • Người làng từ những người nông dân chỉ biết cấy lúa, trồng rau giờ đi làm thợ xây và làm thuê cho dự án.
  • Cuộc sống bớt lam lũ và cơ cực hơn.
  • Tiếng còi xe và nhạc băng ầm ĩ thay cho những lời hát ru con mỗi buổi trưa hè.
  • Những ngôi nhà trong làng đã khang trang, không khí khác trước nhiều lắm.

**Câu 3. Phân tích tác dụng của 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu văn sau:

“Tháng năm có thể khiến con người ta tiều tụy đi, yếu mòn đi. Nhưng tháng năm lại khiến ý chí của con người ta can trường và bền bỉ.”**

Trả lời:
Biện pháp tu từ được sử dụng là điệp ngữ (“tháng năm có thể khiến...”, “nhưng tháng năm lại khiến...”) và phép đối giữa hai vế của hai câu.

  • Tác dụng:
    • Nhấn mạnh tác động của thời gian lên con người: thời gian có thể làm con người tiều tụy, yếu mòn về thể xác, nhưng cũng chính thời gian ấy lại tôi luyện cho con người ý chí can trường, bền bỉ về tinh thần.
    • Làm nổi bật sự đối lập giữa thể xác và tinh thần, giữa mất mát và trưởng thành, qua đó thể hiện triết lí nhân sinh sâu sắc về sức mạnh nội tâm của con người trước thử thách của cuộc đời.

Câu 4. Phân tích sự phù hợp của điểm nhìn trần thuật trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích.

Trả lời:
Đoạn trích được kể theo điểm nhìn của nhân vật “tôi” (ngôi thứ nhất), giúp câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi và giàu cảm xúc.

  • Nhờ điểm nhìn này, người đọc dễ dàng cảm nhận được những biến đổi của làng quê, những trăn trở, suy tư và tình cảm sâu sắc của nhân vật đối với gia đình, quê hương, đặc biệt là với mẹ và dì Lam.
  • Điểm nhìn trần thuật này cũng giúp tác giả thể hiện chủ đề về sự đổi thay của làng quê, về giá trị của tình thân, về sức mạnh vượt qua nghịch cảnh của con người một cách tự nhiên, chân thành và sâu sắc.

Câu 5. Cuộc sống ở nhiều vùng nông thôn hiện nay đã và đang thay đổi như vùng quê của nhân vật “tôi”. Anh/chị suy nghĩ như thế nào về vấn đề trên? (5–7 dòng)

Trả lời:
Cuộc sống ở nhiều vùng nông thôn đang thay đổi nhanh chóng, đời sống vật chất được nâng cao, cơ sở hạ tầng phát triển, người dân có nhiều cơ hội việc làm hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những đổi thay tích cực, cũng xuất hiện không ít vấn đề như mất đi nét đẹp truyền thống, môi trường sống bị ảnh hưởng, các giá trị văn hóa dần phai nhạt. Theo em, mỗi người cần biết trân trọng, giữ gìn những giá trị tốt đẹp của quê hương, đồng thời thích nghi với sự phát triển để xây dựng một cuộc sống hiện đại mà vẫn đậm đà bản sắc truyền thống.

Câu 1:

Bài thơ "tự khuyên mình "(tự miễn) Của Hồ Chí Minh một làm bản lĩnh thép, Thể hiện tinh thần lạc quan và ý chí sắt đá của người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù tày. Mở đầu bài thơ, tác giả mượn quy luật của thiên nhiên: "ví không có cảnh đông tàn /thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân "để dẫn dắt một chân lý cuộc đời. Hình ảnh ấn dụ đông tàn đại diện cho những gian khổ ,khắc nghiệt ,còn "ngày xuân" chính là biểu tượng của thành công và tương lai tươi sáng. Qua đó bác khẳng định gian truân không phải là giao cảm mà là tiền đề tất yếu để ý tới vinh quang. Đến hai câu cuối, ý thơ chuyển từ quy luật khách quan sang tự rèn luyện chủ quan: "nghĩ mình trong bước gian truân /tai ương rèn luyện tinh thần thêm cao".Đối với người, khó khăn không chỉ là thử thách mà còn là "trường học "để tôi luyện ý chí. Điệp từ và cấu trúc đối lập đã làm nổi bật triết lý khổ tận cam lai hết khổ sự sẽ đến lúc vui sướng. Bài thơ không chỉ là lời động viên bản thân trong chốn lao tù mà còn là bài học sâu sắc cho chúng ta về thái độ sống: cần giữ vững niềm tin và bản lĩnh để biến nghịch cảnh thành động lực vươn lên với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hàm súc tự khuyên mình mãi là bài ca về tinh thần lạc quan cách mạng.

Câu 2:

Trong cuộc sống của mỗi người, con đường đi tới thành công chưa bao giờ là một đường thẳng trải đầy hoa hồng. Để chạm tới đỉnh vinh quang hay đơn giản là sự trưởng thành, chúng ta đều phải bước qua những khúc quanh đầy xỏi đá . Đó chính là những thử thách phân tích yếu và mang lại những ý nghĩa vô cùng quan trọng với sự phát triển của con người.

Trước hết, thử thách chính là "thước đo "chính xác nhất cho năng lực và bản lĩnh của mỗi cá nhân. Nếu cuộc sống cứ mãi bình lặng , chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được giới hạn của bản thân mình ở đâu. Giống như viên kim cương chỉ có thể toả sáng sau quá trình chịu áp lực cực lớn, con người cũng chỉ thực sự bộc lộ những tổ chất tiềm ẩn khi rơi vào nghịch cảnh. Khi đối mặt với khó khăn, chúng ta buộc phải suy nghĩ, sáng tạo và vận động hết công suất để tìm ra lối thoát. Chính là quá trình giúp ta rèn luyện sự kiên trì, lòng dũng cảm và tích lũy được những kinh nghiệm quý báo mà không trường lớp nào có thể giảng dạy được. Bên cạnh đó thủ thách còn giúp chúng ta nhìn nhận cuộc sống 1 cách sâu sắc hơn. Như Bác hồ đã từng viết trong bài thơ tự miễn: "vì không có cảnh đông tàn /thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân". Những gian nan chính là trình để cho sự thành công. Nếu không có những ngày đông giá rét, chúng ta sẽ chẳng thể cảm nhận được cái ấm áp và rực rỡ của mùa xuân. Tương tự, nếu không trải qua thất bại, ta sẽ không biết quý trọng hương vị của chiến thắng. Thử thách dạy ta biết khiêm tốn, biết trân trọng những gì mình đang có và nuôi dưỡng lòng trắc ẩn đối với những người cũng đang gặp khó khăn xung quanh mình. Hơn thế nữa, thử thách là môi trường để rèn luyện tinh thần lạc quan và niềm tin một người có bản lĩnh không phải là người chưa từng thất bại, mà là người dám đứng lên từ chính những đổ nát của thử thách. Thay vì coi khó khăn là một tảng đá ngán đường, những người thành công thường coi đó là những nấc thang để bước cao hơn. Khi vượt qua một thử thách , Niềm tin vào bản thân sẽ được cũng cố, tạo ra một nguồn năng lượng nội tại mạnh mẽ để ta sẵn sàng Đối mặt với những cơn bão lớn hơn trong tương lai. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn không ít người chọn cách trốn tránh hoặc dễ dàng gục ngã trước thử thách. Thái độ bi quan, chán nản chỉ khiến con người trở nên yếu đuối và dần bị tụt lại phía sau. Chúng ta cần hiểu rằng, thử thách không sinh ra để tiêu diệt chúng ta, mà để giúp chúng ta "thay đổi da thịt "trở thành một phiên bản tốt hơn của chính mình.

Thử thách là một gia vị không thể thiếu để tạo nên sự đậm đà cho món ăn cuộc đời. Đừng cầu nguyện cho cuộc sống không có khó khăn, hãy cầu nguyện cho mình có một đôi vai đủ sức gánh vác và một tinh thần thép để vượt qua mọi sóng gió. Hãy đón nhận thử thách với tâm thế của một chiến sĩ bởi phía sau mỗi "cảnh đông tàn "chắc chắn sẽ có ngày xuân huy hoàng đang "chờ đợi.

Câu 1. phương thức biểu đạt chính

- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ là biểu cảm

Câu 2. Bài thơ được viết theo thể thơ

- Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

Câu 3. Xác định và phân tích một biện pháp tu từ

- Biện pháp tu từ nổi bật trong hai câu thơ là biện pháp đối (còn gọi là phép đối xứng).

- Xác định: Biện pháp đối được sử dụng trong cặp câu: "Một hữu đồng hàn tiều tụy cảnh, / Tương vô xuân noãn đích huy hoàng".

- Phân tích:

+ Sự đối lập giữa "đồng hàn tiều tụy cảnh" (cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt) và "xuân noãn đích huy hoàng" (mùa xuân ấm áp huy hoàng) tạo ra sự tương phản mạnh mẽ.

+ Cấu trúc "Một hữu... Tương vô..." (Nếu không có... Thì sẽ không có...) nhấn mạnh mối quan hệ nhân quả, điều kiện cần và đủ giữa gian khổ và thành công.

+ Biện pháp này làm nổi bật luận điểm: nghịch cảnh, thử thách là tiền đề, là điều kiện tất yếu để đạt tới những điều tốt đẹp, huy hoàng trong cuộc sống

Câu 4. Ý nghĩa của tai ương đối với nhân vật trữ tình

- Đối với nhân vật trữ tình trong bài thơ, tai ương có ý nghĩa là một sự rèn luyện, một thử thách cần thiết để tôi luyện tinh thần trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn.

- Tai ương không phải là điều tiêu cực hoàn toàn, mà là cơ hội để bộc lộ và phát huy sức mạnh nội tâm.

- Nó giúp mài giũa ý chí, khiến tinh thần thêm hăng hái, không chùn bước trước khó khăn.

- Nhân vật trữ tình nhìn nhận tai ương với thái độ chủ động, tích cực, coi đó là một phần tất yếu của quá trình vươn tới thành công, hạnh phúc.

Câu 5. Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ bài thơ

- Bài học ý nghĩa nhất có thể rút ra từ bài thơ là tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường và thái độ chủ động đối mặt với nghịch cảnh trong cuộc sống. Vì:

+ Cuộc sống luôn tồn tại song song khó khăn và thuận lợi, thất bại và thành công.

+ Thay vì than vãn, bi quan, chúng ta cần chấp nhận thử thách và coi đó là môi trường để rèn luyện bản thân.

+ Chỉ khi vượt qua được "mùa đông tiêu điều", con người mới thực sự trân trọng và tận hưởng "mùa xuân huy hoàng"

Câu 1:

Căn cứ vào số tiếng ở mỗi dòng thơ: mỗi câu thơ có 8 chữ, không quy định số dòng trong một bài là dấu hiệu để xác định thể thơ 8 chữ.

Câu 2:

- Hình ảnh thể hiện hình ảnh của biển đảo và đất nước:

+ "sóng dữ"

+ "Hoàng Sa"

+"bám biển"

+ "Mẹ Tổ Quốc"

+ "Ngư dân"

+ "Màu cờ nước Việt"

+ "biển Tổ Quốc".

Câu 3:

- Biên pháp tu từ so sánh: "mẹ Tổ quốc vẫn luôn bên ta" được so sánh với "máu ấm trong màu cờ nước Việt"

- Tác dụng:

+ Giúp cho câu thơ trơ rnene sinh động, hấp dẫn; tăng sức gọi hình, biểu cảm cho sự diễn đạt.

+ Nhấn mạnh về tình cảm gắn bó sâu sắc và mãnh liệt, mạnh mẽ giữa nơi đảo xa, nơi biển đảo quê hương và quyết tâm bảo vệ , giữ gìn độc lập chủ quyền cho dân tộc của những người giữ biển.

+ Qua đó, cho thấy được tình cảm sâu sắc, sự trân trọng, biết ơn của tác giả đối với những người giữ biển. Đồng thời cho thấy tinh thần lạc quan của họ, sự mạnh mẽ, dũng cảm của họ, họ được "mẹ Tổ quốc" chở che, tình yêu đó ấm áp, là nguồn sống, là màu máu đỏ ấm trong chính màu cờ, sắc áo của nước Việt

Câu 4:

Đoạn trích trên thể hiện tình yêu biển đảo, tình yêu ngư dân nơi biển đảo, tình yêu, sự gắn bó sâu sắc của chính nhà thơ đối với biển đảo Tổ quốc.

Câu 5:

Biển đảo quê hương không chỉ là một phần lãnh thổ thiêng liêng mà còn là nơi in dấu bao mồ hôi, xương máu của những con người ngày đêm bám biển giữ nước. Trước những hi sinh lặng thầm ấy, mỗi người trẻ hôm nay không thể sống thờ ơ hay vô cảm. Em tự ý thức phải học tập nghiêm túc, rèn luyện bản lĩnh và nuôi dưỡng lòng yêu nước từ những hành động nhỏ bé nhất. Đó là trân trọng chủ quyền, giữ gìn môi trường biển và lan tỏa tinh thần trách nhiệm đến cộng đồng. Bởi bảo vệ biển đảo không chỉ là nhiệm vụ nơi tuyến đầu, mà còn là lời nhắc nhở âm thầm trong trái tim mỗi người con đất Việt.


Câu 1:
- Tâm trạng, cảm xúc của nhân vật được thể hiện trong hoàn cảnh xa xứ, sống nơi đất khách quê người nhớ về quê hương của minh.

Câu 2:

- Những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình ngỡ như quê ta:

+ "nắng"

+ "màu mây"

+ "đồi nhuộm vàng"

+ "Cây lá không cành"

+ "dáng phố phường"

+ "nếp nhà dân"

Câu 3:

Cảm hứng chủ đạo là nỗi nhớ quê hương tha thiết, sâu lắng và sự trân trọng những hình ảnh bình dị của con người quê hương xa xứ.

Câu 4:

- Ngỡ như mình đang ở quê nhà (khổ thơ 1) và ý thức rõ mình đang ở quê người, ngắm cảnh cho khuây nỗi nhớ quê (khổ thơ 3)

Câu 5:

- Hình ảnh: "Ngó xuống mũi giày thì lữ thứ/Bụi đường cũng bụi của người ta"

- Lí do:

+ Hình ảnh chân thực, cô đọng.

+ Cảnh vật giống quê nhưng nhân vật ý thức rõ mình chỉ là khách qua đường, lạc lòng giữa đất khách xứ người