Nguyễn Thùy Linh
Giới thiệu về bản thân
“Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại” – lời nhận định của Barack Obama không chỉ là cảnh báo, mà còn là lời thúc giục toàn cầu phải hành động. Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với hàng loạt hệ lụy từ thiên tai, nóng lên toàn cầu đến suy giảm tài nguyên, ý kiến này hoàn toàn xác đáng và đáng để mỗi người suy ngẫm sâu sắc.
Trước hết, biến đổi khí hậu là thách thức lớn bởi nó đe dọa sự sống còn của Trái Đất. Nhiệt độ toàn cầu tăng khiến băng tan, nước biển dâng, nhiều quốc gia đứng trước nguy cơ bị nhấn chìm. Những đợt nắng nóng cực đoan, cháy rừng, hạn hán, bão lũ xảy ra với tần suất dày đặc và cường độ mạnh hơn, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Đây không còn là cảnh báo xa xôi, mà là thực tế đã và đang diễn ra từng ngày. Khi thiên nhiên mất cân bằng, hệ sinh thái suy thoái, con người chính là đối tượng chịu tổn thương trực tiếp nhất.
Không chỉ đe dọa môi trường sống, biến đổi khí hậu còn kéo theo khủng hoảng kinh tế – xã hội. Các ngành sản xuất như nông nghiệp, thủy sản, du lịch bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhiều vùng đất trở nên khô cằn, không thể canh tác; nguồn nước ngọt bị suy giảm, kéo theo nguy cơ thiếu lương thực. Biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng bất bình đẳng: người nghèo, những quốc gia kém phát triển khó có khả năng ứng phó. Điều này có thể dẫn đến xung đột, di cư môi trường và bất ổn toàn cầu. Như vậy, thách thức khí hậu không chỉ là vấn đề của thiên nhiên, mà còn là phép thử đối với năng lực quản trị và tinh thần đoàn kết của loài người.
Vấn đề càng đáng lo hơn khi nguyên nhân chủ yếu lại xuất phát từ hoạt động của chính con người: khai thác quá mức tài nguyên, chặt phá rừng, sử dụng năng lượng hóa thạch và thói quen tiêu dùng thiếu bền vững. Con người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của cuộc khủng hoảng này. Vì vậy, để bảo vệ tương lai, nhân loại không có lựa chọn nào khác ngoài thay đổi tư duy và hành động.
Trước thách thức ấy, mỗi quốc gia và mỗi cá nhân cần có giải pháp cụ thể. Trên quy mô lớn, các chính phủ phải giảm phát thải khí nhà kính, chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, phát triển kinh tế xanh, đồng thời tăng cường các cam kết quốc tế về bảo vệ khí hậu. Song song đó, giáo dục cộng đồng về môi trường cần được đẩy mạnh để thay đổi nhận thức xã hội.
Về phía mỗi cá nhân, chúng ta có thể chung tay bằng những hành động nhỏ nhưng thiết thực: tiết kiệm điện, hạn chế đồ nhựa dùng một lần, trồng cây, sử dụng phương tiện công cộng, phân loại rác, ủng hộ các sản phẩm thân thiện môi trường. Sự thay đổi từ hàng triệu con người sẽ tạo nên tác động mạnh mẽ.
Tóm lại, ý kiến của Barack Obama là lời nhắc nhở nghiêm khắc về thách thức lớn nhất mà nhân loại đang đối mặt. Biến đổi khí hậu không phải là câu chuyện của tương lai xa, mà đang hiện hữu trong từng cơn bão, từng đợt nắng nóng, từng cánh rừng biến mất. Chỉ khi mỗi cá nhân và cộng đồng hành động quyết liệt, chúng ta mới có thể bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung duy nhất của mình – và giữ gìn tương lai cho các thế hệ mai sau.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận.
Câu 2.
Cảm xúc, thái độ của người viết được thể hiện ở phần (3) của văn bản là nỗi cô đơn và nỗi nhớ nhà thường trực.
Câu 3.
Trong phần (1) của văn bản, tác giả đã chỉ ra nét khác biệt của Tràng giang so với thơ xưa khi cùng tái tạo cái "tĩnh vắng mênh mông" thông qua "cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ" của nhân vật trữ tình (Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của "Tràng giang" được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ.).
Câu 4.
Trong phần (4) của văn bản, để làm sáng tỏ "nhịp chảy trôi miên viễn", tác giả đã phân tích những từ láy (điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn), những cặp câu tương xứng, các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối (Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song".).
Câu 5.
− Tràng giang dựng lên một không gian quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đặc điểm này đã được tác giả bài viết phân tích và so sánh để chỉ ra nét gặp gỡ và nét riêng của ngòi bút Huy Cận so với thơ Đường.
Câu 1
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật bé Em trong văn bản "Áo Tết".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Giới thiệu khái quát về tên nhân vật, tên văn bản, tên tác giả.
+ Những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật bé Em:
++ Hồn nhiên, vô tư, có chút trẻ con: Háo hức, sung sướng với chiếc áo đầm hồng mới, muốn khoe ngay với Bích.
++ Tinh tế, nhạy cảm trước hoàn cảnh của bạn bè: Khi biết bé Bích chỉ có một bộ đồ mới thì chần chừ không còn muốn khoe; thể hiện sự suy tư, đồng cảm.
++ Biết hi sinh sở thích cá nhân vì bạn bè: Quyết định không mặc chiếc áo đầm vào mùng Hai.
+ Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật:
++ Lời kể giản dị, ngôn ngữ gần gũi, lời thoại tự nhiên, đậm chất trẻ thơ.
++ Khắc hoạ tâm lí nhân vật tinh tế, chân thực.
Cau 2
Trong văn bản “Áo Tết”, bé Em đã từ bỏ ước muốn có chiếc áo đầm mới để giữ gìn tình bạn chân thành với Tị. Qua lựa chọn ấy, ta nhận ra một thông điệp sâu sắc: vật chất dù cần thiết nhưng không thể thay thế những giá trị tinh thần bền vững. Trong cuộc sống hiện đại, câu chuyện của bé Em khơi gợi suy nghĩ về việc cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần – một vấn đề quan trọng đối với mỗi con người.
Trước hết, không thể phủ nhận vai trò của giá trị vật chất. Vật chất tạo nền tảng cho đời sống: giúp con người đảm bảo nhu cầu ăn mặc, học tập, chăm sóc sức khoẻ và thực hiện ước mơ. Một cuộc sống thiếu thốn dễ khiến con người bị giới hạn cơ hội phát triển. Tuy nhiên, nếu chỉ mải mê theo đuổi vật chất, con người rất dễ rơi vào lối sống thực dụng, đánh mất lòng nhân ái, sự sẻ chia và những mối quan hệ quý giá. Vật chất có thể mua được tiện nghi, nhưng không thể mua được sự bình yên hay tình thương chân thành.
Ngược lại, giá trị tinh thần – như tình bạn, lòng nhân hậu, sự đồng cảm, niềm tin hay ước mơ – chính là phần nuôi dưỡng tâm hồn con người. Đó là động lực giúp ta mạnh mẽ trước khó khăn và biết sống có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Tuy vậy, nếu chỉ chú trọng tinh thần mà bỏ quên nhu cầu vật chất thiết yếu, con người dễ gặp bấp bênh, không đủ điều kiện để thực hiện những dự định tốt đẹp của mình.
Bởi vậy, điều quan trọng không phải là đề cao một phía, mà là biết hài hòa giữa vật chất và tinh thần. Cân bằng ấy giúp con người sống trọn vẹn: có mục tiêu phấn đấu để cải thiện đời sống, nhưng vẫn giữ được lòng nhân ái và giá trị đạo đức. Như bé Em trong câu chuyện, em có thể mong có áo mới, nhưng biết đặt tình bạn lên trên lợi ích cá nhân. Chính sự lựa chọn giàu tính người đó khiến em trở nên đẹp hơn trong mắt người đọc.
Để xây dựng một lối sống hài hòa như vậy, mỗi người cần có những hành động cụ thể. Thứ nhất, hãy xác định đúng nhu cầu: phân biệt đâu là điều thật sự cần thiết và đâu chỉ là mong muốn vượt quá khả năng. Khi tiêu dùng hợp lý, ta tránh lãng phí và biết trân trọng những gì mình có. Thứ hai, mỗi người nên rèn luyện thói quen quan tâm đến cảm xúc và các mối quan hệ xung quanh: dành thời gian cho gia đình, giúp đỡ bạn bè, lắng nghe người khác. Điều đó giúp nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú. Thứ ba, cần duy trì lối sống lành mạnh: đọc sách, vận động, tham gia hoạt động cộng đồng – những việc tưởng chừng nhỏ nhưng đem lại năng lượng tích cực lâu dài. Cuối cùng, mỗi người nên giữ bản lĩnh trước áp lực vật chất, không chạy theo hình thức, hư vinh, biết trân trọng những giá trị đạo đức.
Tóm lại, cân bằng giữa vật chất và tinh thần là một hành trình đòi hỏi sự tỉnh táo và lòng nhân ái. Khi biết đặt những giá trị nhân văn lên trên lợi ích cá nhân, mỗi người không chỉ sống hạnh phúc hơn mà còn góp phần xây dựng một xã hội bền vững, giàu tình người. Câu chuyện của bé Em chính là lời nhắc nhở dịu dàng nhưng sâu sắc về điều đó.
Câu 1
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật bé Em trong văn bản "Áo Tết".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Giới thiệu khái quát về tên nhân vật, tên văn bản, tên tác giả.
+ Những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật bé Em:
++ Hồn nhiên, vô tư, có chút trẻ con: Háo hức, sung sướng với chiếc áo đầm hồng mới, muốn khoe ngay với Bích.
++ Tinh tế, nhạy cảm trước hoàn cảnh của bạn bè: Khi biết bé Bích chỉ có một bộ đồ mới thì chần chừ không còn muốn khoe; thể hiện sự suy tư, đồng cảm.
++ Biết hi sinh sở thích cá nhân vì bạn bè: Quyết định không mặc chiếc áo đầm vào mùng Hai.
+ Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật:
++ Lời kể giản dị, ngôn ngữ gần gũi, lời thoại tự nhiên, đậm chất trẻ thơ.
++ Khắc hoạ tâm lí nhân vật tinh tế, chân thực.
Cau 2
Trong văn bản “Áo Tết”, bé Em đã từ bỏ ước muốn có chiếc áo đầm mới để giữ gìn tình bạn chân thành với Tị. Qua lựa chọn ấy, ta nhận ra một thông điệp sâu sắc: vật chất dù cần thiết nhưng không thể thay thế những giá trị tinh thần bền vững. Trong cuộc sống hiện đại, câu chuyện của bé Em khơi gợi suy nghĩ về việc cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần – một vấn đề quan trọng đối với mỗi con người.
Trước hết, không thể phủ nhận vai trò của giá trị vật chất. Vật chất tạo nền tảng cho đời sống: giúp con người đảm bảo nhu cầu ăn mặc, học tập, chăm sóc sức khoẻ và thực hiện ước mơ. Một cuộc sống thiếu thốn dễ khiến con người bị giới hạn cơ hội phát triển. Tuy nhiên, nếu chỉ mải mê theo đuổi vật chất, con người rất dễ rơi vào lối sống thực dụng, đánh mất lòng nhân ái, sự sẻ chia và những mối quan hệ quý giá. Vật chất có thể mua được tiện nghi, nhưng không thể mua được sự bình yên hay tình thương chân thành.
Ngược lại, giá trị tinh thần – như tình bạn, lòng nhân hậu, sự đồng cảm, niềm tin hay ước mơ – chính là phần nuôi dưỡng tâm hồn con người. Đó là động lực giúp ta mạnh mẽ trước khó khăn và biết sống có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Tuy vậy, nếu chỉ chú trọng tinh thần mà bỏ quên nhu cầu vật chất thiết yếu, con người dễ gặp bấp bênh, không đủ điều kiện để thực hiện những dự định tốt đẹp của mình.
Bởi vậy, điều quan trọng không phải là đề cao một phía, mà là biết hài hòa giữa vật chất và tinh thần. Cân bằng ấy giúp con người sống trọn vẹn: có mục tiêu phấn đấu để cải thiện đời sống, nhưng vẫn giữ được lòng nhân ái và giá trị đạo đức. Như bé Em trong câu chuyện, em có thể mong có áo mới, nhưng biết đặt tình bạn lên trên lợi ích cá nhân. Chính sự lựa chọn giàu tính người đó khiến em trở nên đẹp hơn trong mắt người đọc.
Để xây dựng một lối sống hài hòa như vậy, mỗi người cần có những hành động cụ thể. Thứ nhất, hãy xác định đúng nhu cầu: phân biệt đâu là điều thật sự cần thiết và đâu chỉ là mong muốn vượt quá khả năng. Khi tiêu dùng hợp lý, ta tránh lãng phí và biết trân trọng những gì mình có. Thứ hai, mỗi người nên rèn luyện thói quen quan tâm đến cảm xúc và các mối quan hệ xung quanh: dành thời gian cho gia đình, giúp đỡ bạn bè, lắng nghe người khác. Điều đó giúp nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú. Thứ ba, cần duy trì lối sống lành mạnh: đọc sách, vận động, tham gia hoạt động cộng đồng – những việc tưởng chừng nhỏ nhưng đem lại năng lượng tích cực lâu dài. Cuối cùng, mỗi người nên giữ bản lĩnh trước áp lực vật chất, không chạy theo hình thức, hư vinh, biết trân trọng những giá trị đạo đức.
Tóm lại, cân bằng giữa vật chất và tinh thần là một hành trình đòi hỏi sự tỉnh táo và lòng nhân ái. Khi biết đặt những giá trị nhân văn lên trên lợi ích cá nhân, mỗi người không chỉ sống hạnh phúc hơn mà còn góp phần xây dựng một xã hội bền vững, giàu tình người. Câu chuyện của bé Em chính là lời nhắc nhở dịu dàng nhưng sâu sắc về điều đó.
Câu 1 (2.0 điểm):
Viết đoạn văn nghị luận văn học khoảng 200 chữ phân tích nhân vật Bê-li-cốp trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0.25 điểm)
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Về kiểu đoạn văn, HS có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.25 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật Bê-li-cốp.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0.5 điểm)
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
- Chân dung: Đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô cốt bông, ô để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt để trong bao, giấu mặt sau cổ áo dựng đứng, đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông.
=> Nhắm mắt và bịt tai với đời – một biểu hiện của người trong bao.
- Nghề nghiệp: giáo viên dạy tiếng Hi Lạp.
=> Đây cũng là 1 cái bao bởi tiếng Hi Lạp là thứ ngôn ngữ của quá khứ, là thứ ngôn ngữ đã chết.
- Tư tưởng, lối sống:
+ Cả suy nghĩ cũng ở trong bao, chỉ thông tư điều lệ mới rõ ràng.
=> Điều khiển cuộc sống của hắn là những gì người ta cho phép, những gì người ta cấm đoán, chứ không phải là suy nghĩ và khát vọng của hắn.
+ Ở nhà hắn vẫn mặc áo khoác ngoài, đội mũ đóng cửa cài then, đêm ngủ trùm chăn kín mít, cho thấy hắn tự mình chui vào nhiều lớp bao.
=> Con người sợ hãi tất cả mọi thứ trong đời.
+ Đến nhà đồng nghiệp rồi ngồi không để duy trì mối quan hệ với đồng nghiệp.
=> Sợ người ta dị nghị nhưng không còn chuyện gì để nói. Hắn soi mói cái gì sai để báo cáo vì không báo cáo, hắn là kẻ đồng lõa, vậy nên thực chất, hắn giao tiếp cũng chỉ vì sợ ảnh hưởng đến sự an toàn của mình.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0.5 điểm)
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt (0.25 điểm)
- Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết các câu trong văn bản.
e. Sáng tạo (0.25 điểm)
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2 (4.0 điểm):
Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của việc bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0.25 điểm)
- Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.5 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của việc bước ra khỏi vùng an toàn.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1.5 điểm)
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
+ Vùng an toàn là những không gian quen thuộc mà con người ta thường nương náu và trú ngụ.
+ Bước ra khỏi vùng an toàn cho ta không gian để phát triển bản thân.
+ Bước ra khỏi vùng an toàn cũng rèn luyện tính linh hoạt và khả năng thích nghi của ta.
+ Ta có thêm khả năng khám phá thế giới và thấu hiểu chính mình.
+ Thoát ra khỏi vùng an toàn không dễ dàng, song ta cần phải học cách để làm điều đó bằng cách: Đặt mục tiêu rõ ràng; Thay đổi dần những điều quen thuộc…
+ Tuy nhiên, cũng có những lúc ta cần lí trí, suy nghĩ và cân nhắc cẩn thận để xem xét xem nên ở trong vòng an toàn để đảm bảo giữ vững được những điều vốn có hay nên liều lĩnh để đạt được những thành công mới.
+ Bước ra khỏi vùng an toàn cũng có nghĩa là phải học cách chấp nhận bản thân có khả năng gặp thất bại.
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1.0 điểm)
- Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
đ. Diễn đạt (0.25 điểm)
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo (0.5 điểm)
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1 (0.5 điểm):
- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Tự sự.
Câu 2 (0.5 điểm):
Nhân vật trung tâm của đoạn trích là Bê-li-cốp.
Câu 3 (1.0 điểm):
- Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba.
- Tác dụng:
+ Đảm bảo tính khách quan cho câu chuyện.
+ Kể chuyện một cách linh hoạt.
+ Giúp câu chuyện trở nên sinh động, hấp dẫn.
Câu 4 (1.0 điểm):
- Những chi tiết miêu tả chân dung Bê-li-cốp:
+ Đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông. Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta nữa dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên.
+ Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông.
- Nhan đề đoạn trích được đặt là Người trong bao vì:
+ Tất cả những đồ vật của Bê-li-cốp đều được đặt trong những cái bao kín.
+ Ngay cả chính bản thân Bê-li-cốp cũng tự ẩn mình vào trong những cái “bao”, cắt đi mọi giao cảm với đời.
+ Chiếc bao là ẩn dụ cho việc không dám bước ra khỏi vòng an toàn của mình.
Câu 5 (1.0 điểm):
- Bài học rút ra từ đoạn trích: Phải sống dũng cảm, hết mình, dám chấp nhận tổn thương.
- Vì: Nếu cứ giấu mình, chúng ta sẽ không bao giờ có thể phát triển, và rộng ra, cả xã hội sẽ bị chậm lại theo.
Câu 1 (2.0 điểm):
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong văn bản Chiếu cầu hiền tài.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0.25 điểm)
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Về kiểu đoạn văn, HS có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.25 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Nghệ thuật lập luận trong Chiếu cầu hiền tài của Nguyễn Trãi.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0.5 điểm)
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Mục đích và đối tượng sáng tác: Bài chiếu được viết để chiêu mộ người có tài đức về giúp việc triều chính cho đất nước, vậy nên đối tượng là những người dân có tài, có đức.
+ Các phần được phân chia theo bố cục rõ ràng và logic chặt chẽ: Trước hết, tác giả bài viết đưa ra vấn đề như sau: Việc đầu tiên cần làm sau khi lên ngôi chính là tìm người hiền tài về giúp cho đất nước. Sau đó, tác giả bài viết đưa ra hàng loạt dẫn chứng làm cơ sở thực tiễn để chứng minh cho luận điểm ấy. Tiếp theo, chủ thể bài viết ban hành những chính sách phù hợp để tìm người giúp cho đất nước, trong đó có việc tiến cử và tự tiến cử để không bỏ sót bất kì người tài nào.
+ Cách thức lập luận: Sử dụng nhiều cách thức khác nhau một cách linh hoạt, chặt chẽ và vô cùng thuyết phục, dẫn chứng đáng tin cậy và xác thực, giọng điệu hùng hồn.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0.5 điểm)
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt (0.25 điểm)
- Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết các câu trong văn bản.
e. Sáng tạo (0.25 điểm)
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2 (4.0 điểm):
Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng “chảy máu chất xám” tại Việt Nam hiện nay.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0.25 điểm)
- Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.5 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Hiện tượng “chảy máu chất xám”.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1.5 điểm)
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- “Chảy máu chất xám”: Là hiện tượng người tài, người trí thức có trình độ quyết định sống, làm việc và cống hiến cho nước ngoài.
- Nguyên nhân:
+ Nguyên nhân về môi trường làm việc: thiếu nguồn lực, thiếu cơ sở vật chất, thiếu tự do học thuật, thiếu sự minh bạch trong việc đánh giá và thăng tiến.
+ Nguyên nhân về cơ hội phát triển: ở nước ngoài dễ tiếp xúc với những dự án quốc tế, mạng lưới hợp tác và trao đổi chuyên môn.
+ Nguyên nhân về thu nhập và chính sách: thu nhập cao và chế độ đãi ngộ tốt hơn.
- Hậu quả:
+ Mất đi nguồn lực trình độ cao, làm giảm khả năng phòng ngừa và ứng phó với các vấn đề xã hội.
+ Làm tăng khoảng cách kinh tế và khoa học giữa Việt Nam và các nước phát triển.
+ Những người làm việc ở nước ngoài cũng gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng, đồng thời dần đánh mất sự kết nối đối với quê hương.
VD: Trường hợp Cao Hành Kiện.
- Giải pháp:
+ Cải thiện môi trường làm việc và tăng cơ hội phát triển việc làm cho người tài.
+ Có những chính sách khuyến khích và tôn vinh người tài.
+ Nâng cao thu nhập cho người tài.
- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện.
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1.0 điểm)
- Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
đ. Diễn đạt (0.25 điểm)
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo (0.5 điểm)
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1 (0.5 điểm):
- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Nghị luận.
Câu 2 (0.5 điểm):
- Chủ thể bài viết là Lê Lợi.
Câu 3 (1.0 điểm):
- Mục đích chính của văn bản: Chiêu dụ người tài đức về giúp việc triều chính. (0.25 điểm)
- Các đường lối tiến cử hiền tài: (0.75 điểm)
+ Các đại thần từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người tài.
+ Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.
+ Người có tài đức có thể tự tiến cử.
Câu 4 (1.0 điểm):i viết đã đưa ra các dẫn chứng sau:
+ Thời xưa, dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, nên triều đại thịnh trị.
+ Các quan đời Hán Đường tiến cử người tài giúp nước, như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.
- Nhận xét dẫn chứng:
+ Dẫn chứng được đưa ra phong phú, toàn diện, sắc sảo, từ cổ chí kim, từ gần tới xa.
+ Dẫn chứng hợp lí, xác đáng, là những chuyện có thực, đủ để minh chứng cho luận điểm một triều đại thịnh trị cần có người tài làm căn cơ.
Câu 5
- Chủ thể bài viết có những phẩm chất sau:
+ Trọng người tài.
+ Khiêm nhường, biết lắng nghe ý kiến của dân, lấy dân làm trọng.
+ Anh minh, đưa ra được những chính sách sáng suốt vì dân vì nước.
Câu 1:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài:
Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: tầm quan trọng của lối sống chủ động trong xã hội hiện nay.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp làm rõ vấn đề nghị luận:
HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, nêu rõ lí do và quan điểm của bản thân, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng thuyết phục.
Sau đây là một hướng gợi ý:
– Mở đoạn: Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề cần bàn luận (lối sống có trách nhiệm trong xã hội hiện nay).
– Thân đoạn:
+ Giải thích “lối sống chủ động” là gì.
+ Phân tích, lí giải và lấy dẫn chứng về vai trò của “lối sống chủ động” đối với mỗi người.
+ Mở rộng, phản đề.
+ Liên hệ và rút ra bài học.
– Kết đoạn: Khẳng định và đánh giá lại vấn đề cần bàn luận.
d. Viết đoạn văn cần đảm bảo các yêu cầu sau:
– Lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt:
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết các câu trong đoạn.
e. Sáng tạo:
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài:
Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận văn học.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: cảm nhận về bài thơ Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) – Bài số 43, Nguyễn Trãi.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp làm rõ vấn đề nghị luận:
Sau đây là một hướng gợi ý:
– Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề cần nghị luận.
– Thân bài: Phân tích bài thơ để làm rõ được các nội dung sau:
+ Tâm thế của tác giả: an nhàn, thảnh thơi, muốn hòa mình vào thiên nhiên.
+ Bức tranh cảnh ngày hè nơi làng quê: rực rỡ và căng tràn sức sống.
+ Bức tranh cuộc sống con người: sôi động, phong phú.
+ Tấm lòng yêu nước thương dân và mong ước của nhà thơ: nhân dân có cuộc sống hạnh phúc, no đủ.
+ Đánh giá khái quát về nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
– Kết bài: Khẳng định lại vấn đề.
d. Viết đoạn văn cần đảm bảo các yêu cầu sau:
– Lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt:
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo:
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.
– Tác dụng:
+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.
+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…
Câu 4:
Quan niệm khôn – dại của tác giả:
– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.
– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.
=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.
=>Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.
Câu 5:
Một số gợi ý:
– Là người sống giản dị, thanh bạch.
– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.
– Là người bản lĩnh: coi thường danh lợi.