Nguyễn Đỗ Khánh Ly

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Đỗ Khánh Ly
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Một trong những thái độ sống đẹp và văn minh đó chính là sống ở thế chủ động, sống một cách tích cực và có mục tiêu trong cuộc sống. Thật vậy, theo tôi , đây chính là thái độ sống mà mỗi người cần có để có cuộc sống tích cực và là những yếu tố tiên quyết để làm chủ cuộc sống của chính mình.

Trong cuộc sống, mỗi người chúng ta có một sự nghiệp, mục tiêu, một công việc khác nhau. Nhưng chúng ta đều cần có điểm chung đó là thái độ luôn sống chủ động, tức là chủ động học tập từ những người xung quanh, học tập từ nhiều nguồn, chủ động nhờ vả người khác và cũng chủ động để giúp đỡ người khác. Đây chính là lối sống hòa đồng để mà tương tác với những người xung quanh, đồng thời cũng chính là giúp đỡ chính bản thân mình.

Đầu tiên, sống chủ động như vậy chính là cách để mỗi chúng ta có thể làm chủ cuộc sống của chính mình. Điều chúng ta cần thì chúng ta chủ động học hỏi, chủ động nhờ vả người khác giúp, chủ động học thêm và làm thêm. Cứ như vậy, cuộc sống của chúng ta sẽ là của chúng ta chứ chẳng phải của ai khác. Thứ hai, sống chủ động chính là cách mà chúng ta cần để xây dựng sự nghiệp. Không có lòng tự chủ, tự lập và độc lập thì sao có thể đặt những nền móng vững chắc xây dựng tương lai. Hơn nữa, sự chủ động để ứng phó và chuẩn bị cho mọi tình huống xấu trong cuộc sống cũng là yếu tố quan trọng làm nên thành công. Thứ ba, sống chủ động còn chính là cách mà chúng ta giành được hạnh phúc trong cuộc sống của chính bản thân mình. Ta hạnh phúc vì làm được những điều mà mình mong muốn và rồi quan sát hành trình lớn lên và trưởng thành của chính mình.

Tóm lại, sống chủ động chính là sống một cách có mục tiêu, có động lực và có ý chí phấn đấu không ngừng nghỉ.

Câu 2 :                                              Bài làm 

Nguyễn Trãi – đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa, một nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc. Ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị trong đó có Quốc âm thi tập – Tập thơ Nôm sớm nhất hiện còn lưu giữ được – thể hiện vẻ đẹp tâm hồn tác giả và những sáng tạo trong nghệ thuật thơ Đường của Nguyễn Trãi. Tập thơ gồm 254 bài chia thành 53 chủ đề: Tự than, Bảo kính cảnh giới, Hoa mộc môn, … Riêng nhóm thơ Bảo kính cảnh giới có 61 bài chiếm vị trí quan trọng trong tập thơ. Điều đáng nói là thơ Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi không giáo huấn, khuyên răn triết lí. Đó là thơ đích thực, thể hiện tâm hồn thi sĩ.

Bài thơ Bảo kính cảnh giới số 43 hay còn gọi là Cảnh ngày hè là một bài thơ tả cảnh ngụ tình, tình hòa trong cảnh, thể hiện đậm nét cuộc sống, tâm sự của tác giả. Bài thơ đã toát lên vẻ đẹp của hồn thơ Nguyễn Trãi: lúc ẩn lúc hiện trong đám lá xanh như đốm lửa lúc sáng lúc tắt. Còn ở Cảnh ngày hè, với từ “phun” Nguyễn Trãi thiên về gợi sức sống. Màu đỏ của hoa lựu tuôn trào ra mạnh mẽ. Giữa màu xanh đậm của tán hòe và màu đỏ rực rỡ của hoa lựu là màu hồng bát ngát của áo sen dậy hương thơm “hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. Không chỉ vậy, bức tranh ngày hè của Nguyễn Trãi còn được bổ sung thêm một gam màu ấm nóng nữa: màu vàng của ánh chiều tà lúc “tịch dương”. Trong không gian của buổi chiều mùa hè đầy sức sống ấy có những âm thanh “dắng dỏi” của tiếng ve – tiếng ve như tiếng đàn rộn rã và tiếng “lao xao” từ xa vọng lại. Ở đây “lao xao” là âm thanh của cuộc sống con người gợi sự đông đúc, nhộn nhịp của cảnh mua bán ở một chợ cá làng chài. Đó là âm thanh của cuộc sống no đủ, âm thanh được Nguyễn Trãi cảm nhận không chỉ bằng thính giác mà bằng cả tấm lòng hướng về cuộc sống. Bức tranh mùa hè sinh động được tạo nên bởi sự kết hợp hài hòa của đường nét, hình khối (đùn đùn, rợp giương, phun, …), của màu sắc (màu xanh lục của tán hòe, màu đỏ của hoa lựu, màu hồng của hoa sen, màu vàng của nắng chiều), của ánh sáng, của âm thanh (tiếng dắng dỏi của cầm ve, tiếng lao xao của chợ cá). Nhà thơ sử dụng các động từ mạnh cho thấy sức sống của cảnh vật và gợi tính chất của bức tranh. Không gian trong bức tranh mở rộng từ gần – hiên nhà đến xa – chợ cá. Nguyễn Trãi đã hòa màu sắc, âm thanh, đường nét theo quy luật của cái đẹp trong hội họa, âm nhạc làm cho bức tranh thiên nhiên trở nên có hồn, vừa gợi tả vừa sâu lắng. Cảnh sắc thiên nhiên trong cảm nhận và thể hiện của Nguyễn Trãi không phải trong trạng thái tĩnh mà ở trạng thái động, tất cả như đang cựa quậy, đang lan tỏa, đang vươn lên đầy sức sống nhưng cũng không hề thiếu sự tinh tế, hài hòa. Nếu so sánh với sự mộc mạc, thô nhám như trong câu thơ của tác giả thời Hồng Đức, thì quả thực chất thơ của Ức Trai “tình” hơn hẳn:

"Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi

Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè”.

Nguyễn Trãi đã cảm nhận thiên nhiên bằng tất cả các giác quan từ thị giác, thính giác đến khứu giác, nhưng hơn hết sự cảm nhận đó là bằng cả tâm hồn. Hồn thơ Nguyễn Trãi giao cảm mạnh mẽ và tinh tế của cảnh vật. Bức tranh ngày hè độc đáo và ấn tượng mà người người đọc đang thưởng thức ấy được tạo nên bởi tình yêu thương sâu sắc, bởi tâm hồn nhạy cảm và tài quan sát tinh tế của nhà thơ. Đồng thời cũng nhờ tài sử dụng ngôn ngữ, những từ tượng hình, tượng thanh, từ thuần Việt giàu sức gợi và liên tưởng đã được Nguyễn Trãi sắp xếp đầy tài tình trong những dòng thơ cô đọng và giàu sức gợi. Cội nguồn của bức tranh thiên nhiên sống động ấy chính là tấm lòng thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống của tác giả. Cảnh vật thanh bình, yên vui bởi nhà thơ đang thanh thản. Âm thanh “lao xao chợ cá” dội tới từ phía làng chài phải chăng đang thể hiện niềm vui của tác giả trước cảnh làm ăn yên ấm của người dân? Và tiếng cầm ve “dắng dỏi” cất lên phải chăng là những rộn ràng trong lòng Nguyễn Trãi khi thấy nhân dân được no đủ? Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên nhưng trước hết tấm lòng ông vẫn tha thiết với con người, với dân, với nước. Cuộc sống của người dân, đặc biệt là những người dân lao động (dân đen, con đỏ). Nguyễn Trãi ước:

“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương”.

Nguyễn Trãi đã sử dụng một điển tích trong văn học Trung Quốc để nói lên mong ước của mình: Ngu cầm – đàn của vua Nghiêu vua Thuấn. Nguyễn Trãi mong có chiếc đàn của vua Nghiêu – Thuấn để nhân dân bốn phương được giàu có yên vui. Ta có thể hiểu nhìn dân giàu đủ Nguyễn Trãi mong có cây đàn của vua Thuấn để gảy khúc Nam Phong, ca ngợi cuộc sống của dân chúng khắp nơi đang được no ấm. Ta cũng có thể hiểu Nguyễn Trãi ước mong có một thời thái bình đời vua Nghiêu vua Thuấn để nhân dân được thực sự giàu đủ. Nhưng có lẽ với một người như Nguyễn Trãi, ta phải hiểu là ông mong gảy khúc Nam Phong của vua Thuấn để cho nhân dân giàu đủ khắp đòi phương – khắp mọi nơi. Đó là ước mong được hành động vì dân.

Câu kết của bài thơ là một câu thơ sáu chữ ngắn gọn, giọng thơ chắc nịch dồn nén cảm xúc của cả bài. Nguyễn Trãi nhắc đến “dân”. Điểm kết tụ của hồn thơ Ức Trai không phải là thiên nhiên tạo vật mà là ở con người. 

Câu 1: Biểu cảm 

Câu 2: Hình ảnh nói về nét sinh hoạt hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: 

           + Một mai , một cuốc, một cần câu 

           + Ta tìm nơi vắng vẻ 

            + Thu ăn măng trúc , đông ăn giá 

           + Xuân tắm hồ sen , hạ tắm ao 

           + Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. 

Câu 3: " Một mai , một cuốc, một cần câu 

              Thơ thẩn dầu ai vui thú nào " 

Biện pháp tu từ liệt kê : một mai , một cuốc, một cần câu 

Tác dụng : Liệt kê các vật dụng gần gũi , quen thuộc với người nông dân. Từ đó gợi hình ảnh của người nông dân giản dị, mộc mạc. 

Câu 4: " Ta dại , ta tìm nơi vắng vẻ 

               Người khôn người đến chốn lao xao " 

Tác giả tự nhận mình là dại , cho người là khôn nhưng đó thực chất là hàm ý . Sử dụng nghệ thuật đối "ta-người" , "dại-khôn" , "nơi vắng vẻ -chốn lao xao " nhằm bộc lộ thái độ của mình : tránh xa vòng danh lợi, bon chen, bụi trần để giữ cho nhân cách mình thanh cao. 

Câu 5:                                           Bài làm 

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một người học bác uyên thâm. Ông đã từng lăn lộn chốn quan trường, đã hiểu quy luật biến dịch của cuộc đời, cũng hiểu danh lợi là phù du. Đó là lí do mà ông tìm đến cuộc sống tĩnh lặng cho tâm hồn, hòa nhập cùng thiên nhiên xem phú quý như một giấc chiêm bao, một giấc mộng phù du hư ảo. Đó mới chính là cuộc sống của một nhân cách lớn, một nhà trí tuệ lớn.

Độ rộng viền khung ảnh tối đa là khoảng 4-5cm

a) cos a = -33/65

b) 12x+5y-26=0

a) m thuộc khoảng ( -2;3;8,3)

b) x=0