Lê Thị Trà My
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Trong văn bản Áo Tết của Nguyễn Ngọc Tư, bé Em hiện lên là một cô bé hồn nhiên, tinh nghịch nhưng cũng rất nhạy cảm và biết quan tâm đến bạn bè. Qua những suy nghĩ, lời nói của bé Em, người đọc thấy rõ niềm háo hức của trẻ thơ trước Tết: em mong được mặc áo mới đẹp, muốn khoe với bạn và tạo ấn tượng trước bạn bè. Tuy nhiên, khi nhận ra hoàn cảnh nghèo khó của bạn Bích, bé Em đã biết nhường nhịn, quan tâm và trân trọng tình bạn hơn là vẻ đẹp bên ngoài. Hành vi ấy cho thấy bé Em không chỉ vô tư mà còn có tấm lòng đồng cảm, biết suy nghĩ cho người khác, vượt lên trên sự tự mãn về vật chất. Nhân vật bé Em qua đó trở nên gần gũi, đáng yêu, thể hiện rõ vẻ đẹp tâm hồn tuổi thơ: vừa hồn nhiên, vừa biết yêu thương và gắn bó với bạn bè. Qua bé Em, tác giả muốn gửi gắm thông điệp rằng tình cảm chân thành mới là giá trị quý giá, vượt lên trên những món đồ vật chất bên ngoài.
Câu 2.
Trong cuộc sống hiện đại, nhiều người dễ bị cuốn theo những giá trị vật chất, coi tiền bạc, của cải, đồ dùng… là thước đo hạnh phúc và thành công. Tuy nhiên, như câu chuyện trong Áo Tết, bé Em nhận ra rằng tình bạn chân thành quan trọng hơn chiếc áo đầm mới, giá trị tinh thần mới là điều giúp con người sống hạnh phúc và trọn vẹn. Điều này cho thấy cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần là cần thiết để có một cuộc sống hài hòa, ý nghĩa.
Giá trị vật chất giúp con người đáp ứng nhu cầu cơ bản, tạo sự tiện nghi và an toàn trong cuộc sống. Song nếu chỉ tập trung vào vật chất, con người dễ trở nên vật chất hóa, ích kỷ, thiếu tình thương và sự sẻ chia. Ngược lại, giá trị tinh thần, như tình bạn, tình cảm gia đình, lòng nhân ái, niềm vui sáng tạo, giúp con người trưởng thành, biết đồng cảm, có trách nhiệm và sống có mục đích. Khi biết cân bằng hai loại giá trị này, con người sẽ vừa có đủ phương tiện vật chất để ổn định cuộc sống, vừa giữ được những mối quan hệ tốt đẹp, niềm vui tinh thần bền lâu.
Để xây dựng lối sống hài hòa, cân bằng, mỗi người có thể thực hiện những việc làm cụ thể: trân trọng và vun đắp các mối quan hệ gia đình, bạn bè; biết chi tiêu hợp lý, tiết kiệm, không chạy theo những vật dụng xa xỉ, phù phiếm; dành thời gian cho sở thích, học tập, rèn luyện và các hoạt động thiện nguyện; biết chia sẻ và giúp đỡ người khác, không chỉ bằng vật chất mà còn bằng sự quan tâm, tình cảm chân thành. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần giáo dục giá trị tinh thần cho trẻ em và thanh niên, tạo môi trường phát triển toàn diện.
Tóm lại, câu chuyện bé Em và bé Bích nhắc nhở chúng ta rằng giá trị tinh thần mới là nguồn hạnh phúc bền vững, trong khi giá trị vật chất chỉ là phương tiện. Một cuộc sống cân bằng giữa vật chất và tinh thần sẽ giúp con người sống hạnh phúc, thanh thản và ý nghĩa hơn, biết yêu thương, chia sẻ và trân trọng những điều giản dị quanh mình. Việc nuôi dưỡng cả hai giá trị này chính là chìa khóa để con người trưởng thành toàn diện và sống đẹp trong xã hội hiện đại.
Câu 1.
→ Truyện ngắn.
Câu 2.
→ Đề tài tình bạn tuổi thơ trong bối cảnh gia đình nghèo – giàu khác nhau và câu chuyện về sự sẻ chia, đồng cảm.
Câu 3.
Sự thay đổi điểm nhìn:
– Điểm nhìn chuyển linh hoạt giữa bé Em và bé Bích (lúc theo suy nghĩ của Em, lúc theo cảm xúc của Bích).
Tác dụng:
– Giúp câu chuyện chân thực, sinh động hơn.
– Bộc lộ rõ nội tâm mỗi nhân vật: Em thì hồn nhiên, đôi chút khoe mẽ nhưng biết nghĩ cho bạn; Bích thì hiền, tự trọng, thương bạn thật lòng.
– Tạo sự đối lập giàu – nghèo nhưng vẫn chan hòa tình cảm, làm nổi bật ý nghĩa nhân văn của truyện.
Câu 4.
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là biểu tượng của:
- Niềm tự hào và sự háo hức trẻ thơ của bé Em khi có đồ mới.
- Sự khác biệt giữa hai hoàn cảnh: nhà Em khá giả – nhà Bích nghèo.
- Qua chiếc áo, bộc lộ tính cách Em: ban đầu thích khoe, vô tư nhưng sau đó biết nghĩ cho bạn, biết nhường nhịn và trân trọng tình bạn.
- Đồng thời thể hiện tấm lòng của Bích: tự trọng, không ghen tị, luôn quý mến Em dù Em có mặc gì.
→ Chi tiết chiếc áo đầm hồng làm nổi bật vẻ đẹp nhân hậu, chân thật của tình bạn tuổi thơ.
Câu 5.
Câu chuyện giữa bé Em và bé Bích giúp em hiểu rằng tình bạn chân thật không phụ thuộc vào giàu nghèo hay những thứ bề ngoài. Bạn bè cần biết quan tâm, cảm thông và đặt niềm vui của nhau lên trên sự khoe khoang cá nhân. Sự sẻ chia và thấu hiểu khiến tình bạn trở nên đẹp và bền lâu. Cũng như bé Em, chúng ta nên học cách nghĩ cho người khác; và như bé Bích, nên luôn chân thành, không mặc cảm hay ghen tị. Tình bạn chỉ thật sự ý nghĩa khi có yêu thương và tôn trọng.
Câu 1. Đoạn văn 200 chữ phân tích hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh”
Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là một sáng tạo thi vị, giàu ý nghĩa. Trước hết, đó là hình ảnh rất đỗi mộc mạc, gần gũi, gợi lên vẻ đẹp thuần khiết, giản dị của làng quê Việt Nam. Hoa chanh nhỏ bé, không rực rỡ, nhưng lại toả hương nhẹ nhàng, kín đáo – giống như nét đẹp tự nhiên của cô gái thôn quê trước khi bị ảnh hưởng bởi lối sống thị thành. Đồng thời, hình ảnh này còn mang ý nghĩa biểu tượng. Hoa chanh nở giữa vườn chanh là vẻ đẹp đúng nơi, đúng chất, hòa hợp với môi trường sinh ra nó. Cũng như người con gái quê chỉ thật sự đẹp, thật sự là chính mình khi giữ gìn vẻ mộc mạc chân chất của quê hương. Qua đó, Nguyễn Bính bày tỏ nỗi lo lắng và cả lời nhắn nhủ yêu thương: hãy giữ lấy cái “chân quê” đang bị phai nhạt trước sức hấp dẫn của thị thành. Như vậy, hình ảnh hoa chanh không chỉ tạo nên vẻ đẹp nên thơ mà còn gửi gắm quan niệm nghệ thuật nhân văn: vẻ đẹp chân thật nhất chính là vẻ đẹp gắn với nguồn cội.
Câu 2.
Biến đổi khí hậu đang trở thành vấn đề được nhắc đến hàng ngày trên khắp thế giới, và như Barack Obama đã nhận định, đó là “thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại”. Nhận định này hoàn toàn xác đáng, bởi những biến động của khí hậu đang đe dọa trực tiếp đến sự sống của con người, của tự nhiên và cả ổn định xã hội toàn cầu.
Trước hết, biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất vì nó tác động trực tiếp đến môi trường sống – nền tảng tồn tại của loài người. Nhiệt độ Trái Đất tăng lên từng năm đã dẫn đến băng tan ở hai cực, nước biển dâng, làm mất dần diện tích đất liền của nhiều quốc gia ven biển. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lớn, hạn hán, cháy rừng, lũ lụt xảy ra với tần suất dày đặc hơn, đe dọa tính mạng và tài sản của hàng triệu người. Không chỉ vậy, hệ sinh thái bị phá vỡ khiến nhiều loài sinh vật tuyệt chủng, chuỗi thức ăn bị phá vỡ, làm môi trường trở nên mất cân bằng nghiêm trọng.
Thứ hai, biến đổi khí hậu còn kéo theo những hệ lụy xã hội – kinh tế sâu rộng. Nông nghiệp, ngành phụ thuộc trực tiếp vào tự nhiên, đang chịu thiệt hại nặng nề do thời tiết thất thường, khiến an ninh lương thực toàn cầu bị đe dọa. Bên cạnh đó, việc di dân vì môi trường, xung đột tài nguyên nước, đất… ngày càng gia tăng, tạo nên những áp lực lớn về kinh tế và chính trị. Một thách thức lớn khác là tốc độ biến đổi khí hậu vượt xa tốc độ thích ứng của nhiều quốc gia nghèo, khiến khoảng cách phát triển càng bị nới rộng.
Trước thách thức ấy, nhân loại cần chung tay hành động. Các quốc gia phải nghiêm túc thực hiện cam kết giảm phát thải, sử dụng năng lượng sạch, bảo vệ rừng và đầu tư cho các công nghệ xanh. Mỗi cá nhân cũng có thể góp phần thông qua những hành động nhỏ như tiết kiệm điện, giảm rác thải nhựa, ưu tiên phương tiện di chuyển thân thiện môi trường. Sự thay đổi từ ý thức đến hành động của từng người sẽ tạo nên sự chuyển biến lớn cho toàn xã hội.
Tóm lại, biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất của tương lai nhân loại bởi nó đe doạ toàn diện cả môi trường, kinh tế và đời sống xã hội. Nhận thức rõ điều này giúp chúng ta hiểu rằng bảo vệ Trái Đất chính là bảo vệ chính cuộc sống của con người hôm nay và mai sau. Hành động sớm – hành động ngay – là lựa chọn duy nhất để nhân loại vượt qua thách thức này.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: nghị luận (phê bình, bình giảng văn học).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết bộc lộ cảm giác bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng của con người trước dòng sông rộng lớn – cũng là trước dòng đời rộng dài. Tác giả vừa ngỡ mình như cành củi khô vừa như cánh chim nhỏ lạc lõng, thể hiện nỗi triết lí nhân sinh và cảm thức cô đơn.
Câu 3.
Nét khác biệt được chỉ ra là:
- Thơ xưa cảm nhận cái “tĩnh vắng” bằng sự an nhiên tự tại, vẻ đẹp thanh bình.
- Còn trong Tràng giang, sự trống vắng lại được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, lạc lõng, bơ vơ tuyệt đối của con người trước vũ trụ rộng lớn.
→ “Tràng giang” tái tạo tĩnh lặng nhưng thấm đẫm nỗi buồn nhân thế.
Câu 4.
Các yếu tố ngôn ngữ được tác giả phân tích:
- Từ láy gợi nhịp điệp trùng: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn,…
- Câu thơ có cấu trúc đối xứng tạo nhịp nối tiếp, chảy dài:
“Nắng xuống / trời lên / sâu chót vót…” - Từ ngữ chỉ sự trùng điệp, tiếp nối: “hàng nối hàng”, “tiếp bãi vàng”,…
→ Tất cả tạo nên nhịp chảy trôi miên viễn của dòng Tràng Giang trong thơ.
Câu 5
Em ấn tượng nhất là nỗi cô đơn và nỗi nhớ nhà mang tầm vóc nhân loại trong bài thơ. Bởi vì qua việc miêu tả thiên nhiên rộng lớn và hoang vắng, Huy Cận đã gợi ra cảm giác con người thật nhỏ bé, luôn khao khát được sẻ chia và quay về với cội nguồn. Điều đó khiến bài thơ chạm đến trái tim em và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: nghị luận (phê bình, bình giảng văn học).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết bộc lộ cảm giác bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng của con người trước dòng sông rộng lớn – cũng là trước dòng đời rộng dài. Tác giả vừa ngỡ mình như cành củi khô vừa như cánh chim nhỏ lạc lõng, thể hiện nỗi triết lí nhân sinh và cảm thức cô đơn.
Câu 3.
Nét khác biệt được chỉ ra là:
- Thơ xưa cảm nhận cái “tĩnh vắng” bằng sự an nhiên tự tại, vẻ đẹp thanh bình.
- Còn trong Tràng giang, sự trống vắng lại được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, lạc lõng, bơ vơ tuyệt đối của con người trước vũ trụ rộng lớn.
→ “Tràng giang” tái tạo tĩnh lặng nhưng thấm đẫm nỗi buồn nhân thế.
Câu 4.
Các yếu tố ngôn ngữ được tác giả phân tích:
- Từ láy gợi nhịp điệp trùng: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn,…
- Câu thơ có cấu trúc đối xứng tạo nhịp nối tiếp, chảy dài:
“Nắng xuống / trời lên / sâu chót vót…” - Từ ngữ chỉ sự trùng điệp, tiếp nối: “hàng nối hàng”, “tiếp bãi vàng”,…
→ Tất cả tạo nên nhịp chảy trôi miên viễn của dòng Tràng Giang trong thơ.
Câu 5
Em ấn tượng nhất là nỗi cô đơn và nỗi nhớ nhà mang tầm vóc nhân loại trong bài thơ. Bởi vì qua việc miêu tả thiên nhiên rộng lớn và hoang vắng, Huy Cận đã gợi ra cảm giác con người thật nhỏ bé, luôn khao khát được sẻ chia và quay về với cội nguồn. Điều đó khiến bài thơ chạm đến trái tim em và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.
Việc trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó giúp bổ sung và duy trì lượng nitrogen (nitơ) trong đất vì:
Đậu nành (và các cây họ Đậu nói chung) có khả năng cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm (ví dụ: vi khuẩn Rhizobium) trong các nút sần ở rễ cây.
Các vi khuẩn này có khả năng hấp thụ khí nitrogen (N₂) từ không khí và chuyển hóa nó thành dạng hợp chất nitrogen mà cây trồng có thể sử dụng (như amoniac NH₃).
Khi đậu nành phát triển, một phần nitrogen này sẽ tích lũy trong đất, làm giàu nguồn dinh dưỡng cho đất, bù đắp cho lượng nitrogen đã bị khoai hút đi trước đó.
=> Nhờ vậy, việc luân canh trồng đậu nành sau khoai sẽ giúp cải thiện độ màu mỡ và giữ cân bằng nitrogen trong đất mà không cần dùng quá nhiều phân bón hóa học.
a. Môi trường nuôi cấy không liên tục và môi trường nuôi cấy liên tục:
Môi trường nuôi cấy liên tục: Là môi trường mà dinh dưỡng được bổ sung liên tục, đồng thời chất thải và vi khuẩn dư thừa được lấy ra để duy trì môi trường ổn định, giúp vi khuẩn sinh trưởng liên tục.
Môi trường nuôi cấy không liên tục: Là môi trường mà vi khuẩn được nuôi cấy trong một lượng dinh dưỡng xác định và không thêm dinh dưỡng hoặc loại bỏ chất thải trong suốt quá trình nuôi cấy. b. Sự sinh trưởng của quần thể vi khuẩn ở các pha trong môi trường nuôi cấy không liên tục: Trong môi trường nuôi cấy không liên tục, quần thể vi khuẩn phát triển qua 4 pha: Pha tiềm phát (pha lag): Vi khuẩn thích nghi với môi trường mới, chưa sinh sản ngay. Sinh tổng hợp mạnh để chuẩn bị phân chia. Pha lũy thừa (pha log): Vi khuẩn phân chia mạnh mẽ theo cấp số nhân. Số lượng tế bào tăng rất nhanh, môi trường thuận lợi. Pha cân bằng (pha stationary): Số lượng tế bào sinh ra bằng số lượng tế bào chết. Dinh dưỡng dần cạn kiệt, chất thải tích tụ. Pha suy vong (pha death): Tế bào chết nhiều hơn tế bào sinh ra. Dinh dưỡng cạn kiệt, chất độc tích tụ cao.
c1 Sê-khốp là một trong những nhà văn hiện thực tiêu biểu của nền văn học Nga. Tác phẩm của ông đa số là truyện ngắn với những câu chuyện có cốt truyện giản dị nhưng có ý nghĩa sâu sắc, phản ánh những vấn đề của đời sống xã hội, có vai trò giáo dục con người lớn lao và giàu ý nghĩa nhân văn. Truyện ngắn "Người trong bao" là một tác phẩm thành công làm nên tên tuổi của ông, thông qua nhân vật Bê- li- cốp, tác giả đã dựng lên bầu không khí tù đọng, ngột ngạt của nước Nga những năm cuối thế kỉ XIX, phê phán lối sống của một kiểu người cổ hủ, kì dị.
Bê- li- cốp là một giáo viên dạy tiếng Hy lạp cổ tại một ngôi trường. Ông kỳ lạ từ vẻ ngoài cho đến tính cách. Mặt mũi lúc nào cũng nhợt nhạt, nhỏ bé choắt lại như mặt chồn, trang phục khác người, mọi thứ liên quan đến bản thân đều được ông ta cố tình che đậy rất mực cẩn thận. Bất kể lúc nào, dù trời nắng đẹp hay mưa rét, ông ta cũng mang một cái áo bành to tướng, đi đôi giày cao su, đeo kính râm,... như muốn che giấu điều gì đó. Mọi vật dụng sinh hoạt hằng ngày đều được cất giấu kĩ lưỡng trong bao. Miệng lúc nào cũng lo sợ: "Nhỡ xảy ra chuyện gì?"..., một kẻ nhút nhát, sợ hãi đến đáng thương.
Bê-li-cốp sống trong một căn phòng chật hẹp, thiếu sinh khí, khi nào lên giường đi ngủ cũng cố trùm chăn kín mít kẻ cả trời nắng nóng, trông hệt như một cái bao, gói gọn tất cả mớ suy nghĩ lo sợ vào trong con người hắn. Một cái bao che giấu hết bản thân của hắn để tránh tất cả những tác động bên ngoài. Mọi ý nghĩ, việc làm của hắn như muốn được che đậy. Hắn luôn thoả mãn, hài lòng với cách sống đó. Hắn khiến cho bao nhiêu người xung quanh phải sợ hãi, lo lắng, thậm chí là tránh xa. Bê-li-cốp như chỉ có một mình mà không có bất kì một mối liên hệ mật thiết nào với người xung quanh, đến trường lầm lì không nói, xem cách đến nhà đồng nghiệp chơi như một cách duy trì quan hệ mà chẳng nói một câu nào, ngồi lì rồi ra về. Với hắn, chỉ có những chỉ thị, lệnh cấm mới an toàn. Bê- li-cốp có một lối sống vô cùng lập dị khác người, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nhưng với hắn thì không. Hắn luôn sợ hãi với chính mình, sợ hãi với mọi người xung quanh. Dường như khát khao mãnh liệt nhất của hắn là thu mình vào trong bao, tránh xa mọi sự thể bên ngoài, một lối sống khiến người khác phải e dè, kinh hoàng, và lo sợ. Sau cuộc cãi vã với chị em nhà Va-ren-ca, hắn thấy rất tức giận và vô cùng xấu hổ, nhục nhã, thậm chí rất sốc trước hành động cũng như thái độ của họ. Cuối cùng cái chết xảy ra với Bê-li-cốp như một lẽ tất yếu. Hắn chết trong niềm vui, sự mãn nguyện và bình thản, đó là cái chết mình chứng cho lối sống ích kỉ tự tiêu diệt chính mình, hắn được chui vào chiếc bao mãi mãi không bao giờ giải thoát được. Cái chết của y đã khiến không khí bớt ngột ngạt, mọi người thấy thoải mái nhẹ nhàng hơn được một thời gian, nhưng sau đó lại xuất hiện bao nhiêu kẻ "trong bao" như Bê-li- cốp. Cuộc sống lại đi vào ngõ cụt, chẳng thể tốt đẹp hơn được nữa.
Như vậy, Bê-li-cốp đã không chỉ là một phần tử đơn độc, một trường hợp duy nhất trong xã hội mà trở thành đại diện điển hình của xã hội thời bấy giờ. Lối sống ấy đã tồn tại âm ỉ trong văn hoá đời sống con người Nga thế kỉ XIX. Tác giả đã phê phán chế độ cũ lạc hậu, chuyên chế trì trệ thối nát đã sản sinh những kiểu người lập dị, trong bao. Muốn tiêu diệt nó phải xóa bỏ nền độc tài, đưa xã hội ngày một tiến bộ hơn.
Trong xã hội ngày nay, vẫn còn nhiều kiểu người như Bê-li-cốp, lo sợ quyền lực, sống hèn nhát, nhu nhược, không dám bày tỏ chính kiến của bản thân, gió chiều nào xuôi theo chiều ấy. Sống trong lo sợ, đó là những thái độ sống đáng phê phán. Chúng ta những thế hệ tương lai phải sống hết mình, phải là chính mình, hãy nhìn cuộc sống bằng cái nhìn lạc quan và tố đẹp nhất, giữ cho tâm được an yên, bình lặng. Hãy sống chủ động, nắm bắt cơ hội và yêu thương, hoà đồng nhiều hơn, xóa bỏ lo sợ, xoá bỏ cái bao trong chính mình, xóa bỏ lối ích kỷ hẹp hòi để vươn tới những điều tốt đẹp hơn. Đừng tự giết tương lai của chính mình trong những cái bao vô hình đáng sợ.
c2 bài làm
Trong cuộc sống, việc luôn ở trong "vùng an toàn" có thể mang lại sự ổn định và an tâm, nhưng cũng chính nó có thể khiến chúng ta trở nên trì trệ, thiếu sáng tạo và không phát huy hết tiềm năng của bản thân. Sự sẵn sàng vượt ra khỏi vùng an toàn là một yếu tố quan trọng giúp mỗi người phát triển và đạt được thành công trong cuộc sống. Khi chúng ta dám bước ra khỏi sự an phận, đối diện với những thử thách và khó khăn, chúng ta sẽ học hỏi được nhiều điều mới mẻ, từ đó phát triển kỹ năng, mở rộng tầm nhìn và trở nên mạnh mẽ hơn. Đặc biệt trong thời đại thay đổi nhanh chóng như hiện nay, sự chủ động thay đổi, dám thử thách bản thân và làm quen với những điều mới mẻ sẽ giúp chúng ta thích nghi tốt hơn với môi trường xung quanh. Mặc dù có thể gặp khó khăn và thất bại, nhưng chính những trải nghiệm đó sẽ rèn luyện chúng ta thành những người kiên cường và tự tin. Do đó, tinh thần sẵn sàng vượt ra khỏi vùng an toàn không chỉ là một yếu tố cần thiết mà còn là chìa khóa mở ra cơ hội và sự thành công trong tương lai.
c1 Nghệ thuật lập luận được thể hiện qua việc sử dụng những lí lẽ, bằng chứng vô cùng xác đáng về thời cuộc, hoàn cảnh của đất nước: sau chiến tranh, nguyên khí quốc gia kiệt quệ, triều đình hỗn loạn, lòng người hoang mang… những người hiền tài thì sống ẩn dật, lánh xa sự đời, bỏ mặc đất nước trong hoàn cảnh nguy nan… Nhưng bên cạnh những lời chỉ trích có phần gay gắt, đanh thép ấy ta vẫn bắt gặp những câu hỏi tu từ đậm chất biểu cảm như “Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?...” Như một nỗi niềm giãi bày, một sự trải lòng của chính nhà vua, thay vì việc đổ lỗi cho người tài, ông nhận sự nhượng bộ về mình. Đây là một cách thuyết phục độc đáo, không chỉ cho ta thấy nỗi niềm, tấm lòng của nhà vua còn là một cách thấy nhu thắng cương khiến người nghe không khỏi thấy nhói lòng, tội lỗi nếu làm
c2 bài làm
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng thể hiện sự nhận thức sâu sắc về vai trò của thế hệ trẻ trong quá trình xây dựng đất nước bằng câu nói: "Sự tươi đẹp của non sông Việt Nam, khả năng cạnh tranh với các cường quốc trên thế giới, và cả sự phát triển của đất nước chúng ta đều dựa vào phần lớn vào việc học tập và phấn đấu của các bạn trẻ." Thế hệ trẻ được xem là trụ cột quan trọng để đưa Việt Nam vươn lên trở thành một đất nước mạnh mẽ và phồn thịnh trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, ngày nay, chúng ta đang đối mặt với một thực tế đáng buồn, đó là sự "chảy máu chất xám." Đơn giản, đây là hiện tượng khi một số lượng lớn các nhân tài trẻ và trí thức của Việt Nam quyết định định cư, làm việc tại nước ngoài thay vì quay về đóng góp cho quê hương. "Chất xám" ở đây đại diện cho trí tuệ, sự sáng tạo và năng lực của con người.
Rất nhiều bạn trẻ và những tài năng xuất sắc của Việt Nam sau khi học tập ở nước ngoài quyết định ở lại đóng góp tài năng và sáng tạo để tạo ra giá trị vật chất cho cộng đồng nơi họ đang sinh sống, thay vì trở về quê hương. Tình trạng này dẫn đến sự "thất thoát" của những nguồn nhân lực xuất sắc và ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Nguyên nhân của tình trạng chảy máu chất xám có thể được phân tích từ hai góc độ: góc độ cá nhân và góc độ cơ cấu xã hội. Từ góc độ cá nhân, nhiều người trẻ thích hưởng lợi từ môi trường làm việc tốt hơn và thu nhập cao hơn ở nước ngoài. Từ góc độ cơ cấu xã hội, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với sự phát triển kém cỏi so với các quốc gia tiên tiến, thiếu điều kiện và chế độ đãi ngộ không thực sự thúc đẩy sự phát triển của tài năng trong nước. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải thực hiện các biện pháp như thu hút và giữ chân tài năng, tạo điều kiện làm việc hấp dẫn cho họ.
Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần phát huy tình yêu đối với đất nước và tinh thần dân tộc, sẵn sàng đóng góp khả năng và sức lực để đưa Việt Nam tiến bước phía trước, thực hiện lời dạy của Bác Hồ và góp phần vào sự phát triển giàu đẹp của đất nước
c1 PTBD chính nghị luận
c2chủ thể bài viest là tác giả
c3Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản:
- Người tiến cử được thưởng vào bực thượng thưởng, theo như phép xưa.
- Tiến cử người có tài trung bình thì được thưởng thăng hai trật.
- Tiến cử người có tài đức đều trội hơn đời, thì được trọng thưởng.
muck đích chính thuyết phục kẻ sĩ Bắc Hà ra cộng tác với triều đình Tây Sơn.