Hà Bảo Oanh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Tôi đồng ý với ý kiến này vì thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là thắng lợi oanh liệt, đánh dấu một mốc son trong lịch sử dân tộc Việt Nam và mở ra thời kì chiến tích huy hoàng của những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới ách nô lệ của thực dân phong kiến phương Bắc. Cuộc khởi nghĩa của hai Bà là cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do phụ nữ lãnh đạo.Cuộc khởi nghĩa nổ ra làm chấn động cả cõi Nam. Từ trong ngọn lửa của cuộc nổi dậy oanh liệt ấy tỏa ra chân lý lịch sử “Một dân tộc dù nhỏ bé nhưng tự mình đã dựng nên, làm chủ đất nước và số phận mình. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là sự kết tinh của cả một quá trình đấu tranh lâu dài, khi thì âm thầm, lúc thì lại công khai của nhân dân Việt Nam. Đây là một phong trào nổi dậy của toàn dân, vừa quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do Hai Bà Trưng đề xướng, vừa tỏa rộng trên toàn miền Âu Lạc cũ.Đây là cuộc khởi nghĩa chống sự cai trị của Trung Quốc đầu tiên của người Việt trong 1000 năm Bắc thuộc. Hai Bà Trưng đã dựa vào nhân dân khôi phục lại sự nghiệp cũ của vua Hùng. Cuộc khởi nghĩa là sự phủ nhận hiên ngang cường quyền của các triều đại phương Bắc coi các dân tộc xung quanh là “Man Di” (“man tộc”, “man rợ” hay “mọi rợ”), thuộc quốc buộc phải phục tùng “thiên triều”, “thiên tử”, phủ nhận tư tưởng “tôn quân, đại thống nhất”.Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng do phụ nữ là lãnh đạo khởi nghĩa, trong thế giới tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của đế chế Hán cổ đại, được xem là sự đối chọi quyết liệt về văn hóa, nếp sống, nếp tư duy của đôi bên Nam – Bắc, Việt – Hán. Vì vậy, việc Hai Bà Trưng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa phần nào đã giúp nâng cao vị thế của phụ nữ xưa trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Tục ngữ có câu: ” Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Quả đúng không sai, từ xa xưa, phụ nữ Việt Nam đã được Bác Hồ ngợi ca với 8 chữ vàng: ” Anh hùng – Bất khuất – Trung Hậu – Đảm Đang”. Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo là một trang sử vô cùng đẹp đẽ trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nó làm rạng rỡ dân tộc ta nói chung và làm vẻ vang cho phụ nữ nói riêng.
Câu 2 :
Là một học sinh, em cần tích cực học tập kiến thức lịch sử, địa lý và pháp luật về biển đảo, đồng thời tuyên truyền cho mọi người xung quanh hiểu đúng về chủ quyền Việt Nam. Hành động thiết thực bao gồm: tham gia các phong trào hướng về biển đảo, bảo vệ môi trường biển, phê phán các hành vi xâm phạm chủ quyền và sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi.
Câu 1
Trong văn bản “Áo Tết”, nhân vật bé Em hiện lên như một cô bé hồn nhiên, dễ thương nhưng cũng giàu lòng nhân hậu và biết cảm thông. Khi mới được má mua cho chiếc áo đầm hồng, bé Em vui mừng, háo hức và muốn khoe ngay với bạn. Niềm vui sở hữu đồ đẹp thể hiện nét rất tự nhiên của tuổi thơ. Tuy nhiên, khi gặp Bích – cô bạn thân có hoàn cảnh khó khăn – bé Em nhanh chóng nhận ra sự chênh lệch giữa hai đứa. Ánh mắt buồn của Bích khiến bé Em bối rối, lưỡng lự giữa việc khoe áo và giữ tình bạn. Từ một cô bé ham thích cái đẹp, bé Em chuyển sang suy nghĩ chín chắn: nếu mình mặc áo đầm hồng, Bích sẽ buồn và cả hai sẽ mất vui. Sự lựa chọn không mặc chiếc áo mới khi đi chơi cùng bạn là minh chứng cho trái tim nhân hậu, biết hi sinh niềm vui cá nhân để giữ trọn tình cảm bạn bè. Qua nhân vật bé Em, ta thấy được vẻ đẹp trong sáng của trẻ thơ: lòng nhân ái, sự đồng cảm và tình bạn chân thành – những giá trị giản dị nhưng vô cùng đáng quý.
Câu 2 :
Trong văn bản “Áo Tết”, khi đứng trước chiếc áo đầm hồng mới tinh, bé Em hạnh phúc như bao đứa trẻ khác. Nhưng niềm vui ấy chợt khựng lại khi Em nhìn thấy ánh mắt buồn bã của Bích – người bạn nghèo chỉ có một bộ đồ mới cho ngày Tết. Từ đó, bé Em nhận ra một điều giản dị mà sâu sắc: tình bạn chân thành quan trọng hơn mọi món đồ đẹp, và niềm vui thật sự không phải lúc nào cũng đến từ vật chất. Câu chuyện nhỏ ấy gợi cho chúng ta suy nghĩ về giá trị vật chất và giá trị tinh thần trong cuộc sống hiện đại.
Không thể phủ nhận vai trò của vật chất: nó đảm bảo nhu cầu sống, mang lại sự tiện nghi và giúp con người phát triển. Tuy nhiên, nếu đặt vật chất lên trên tất cả, chạy theo sở hữu và so sánh, chúng ta dễ đánh mất những giá trị tinh thần quý giá như tình bạn, tình cảm gia đình, lòng nhân ái hay sự thanh thản trong tâm hồn. Ngược lại, nếu chỉ coi trọng tinh thần mà xem nhẹ vật chất, ta có thể rơi vào thiếu thốn, khó đáp ứng nhu cầu thiết yếu. Bởi vậy, cuộc sống chỉ thật sự trọn vẹn khi con người biết cân bằng giữa vật chất và tinh thần.
Giống như bé Em, đôi khi ta phải tự hỏi: “Điều gì quan trọng hơn?” Một món đồ mới hay niềm vui của người bạn thân? Một thành tích vật chất hay sự bình yên và chân thành trong mối quan hệ? Sự cân bằng đến từ khả năng biết dừng lại, biết đặt giá trị tinh thần ngang hàng – thậm chí cao hơn – những thứ ta đang sở hữu. Khi hiểu rằng vật chất chỉ là phương tiện chứ không phải mục đích sống, con người sẽ nhẹ nhàng và hạnh phúc hơn.
Để xây dựng một lối sống hài hoà giữa vật chất và tinh thần, mỗi người có thể bắt đầu từ những việc làm cụ thể. Trước hết, hãy tiêu dùng có ý thức, biết đủ và không chạy theo hình thức hay quảng cáo. Thứ hai, cần dành thời gian cho những giá trị tinh thần: quan tâm gia đình, chia sẻ với bạn bè và nuôi dưỡng lòng trắc ẩn. Thứ ba, hãy rèn luyện thói quen cân đối thời gian giữa học tập – làm việc và nghỉ ngơi, để tâm hồn không bị áp lực vật chất chi phối. Cuối cùng, đừng quên lan toả yêu thương: một lời hỏi thăm, một sự nhường nhịn hay một hành động nhỏ vì người khác đều góp phần làm giàu có đời sống tinh thần của ta.
Câu chuyện của bé Em nhắc chúng ta rằng, khi biết yêu thương và sẻ chia, vật chất sẽ trở nên đẹp hơn, còn tinh thần thì thêm phần phong phú. Cuộc sống chỉ thật sự ý nghĩa khi con người biết sống cân bằng – giữa cái chúng ta “có” và cái chúng ta “là”.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn.
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là tình bạn tuổi thơ và sự khác biệt về hoàn cảnh sống trong ngày Tết, từ đó làm nổi bật tấm lòng chân thành, biết cảm thông và sẻ chia giữa những đứa trẻ.
Câu 3.
Sự thay đổi điểm nhìn:
– Đoạn trích chủ yếu được kể từ ngôi thứ ba, nhưng điểm nhìn luân chuyển giữa nội tâm bé Em và bé Bích.
– Lúc thì người kể theo dõi suy nghĩ, tâm trạng, toan tính của bé Em, lúc lại đi vào nỗi buồn, sự tủi thân nhưng hiền lành của bé Bích.
Tác dụng:
– Giúp câu chuyện trở nên sâu sắc, đa chiều, người đọc hiểu được cả hai nhân vật.
– Làm nổi bật tấm lòng biết nghĩ cho bạn của bé Em và sự chân chất, vị tha của bé Bích.
– Tăng chiều sâu cảm xúc, tạo sự đồng cảm.
Câu 4.
Ý nghĩa của chi tiết chiếc áo đầm hồng:
– Với bé Em: ban đầu là niềm vui, niềm tự hào trẻ con; nhưng khi thấy bạn buồn, nó trở thành phép thử tấm lòng, để lộ ra sự biết nghĩ cho bạn, biết hi sinh niềm vui cá nhân.
– Với bé Bích: chiếc áo hồng làm lộ rõ hoàn cảnh nghèo, nỗi buồn tủi nhưng cũng cho thấy sự không ghen tị, lòng chân thành trong tình bạn.
→ Chi tiết chiếc áo trở thành trung tâm xung đột cảm xúc, từ đó bộc lộ rõ nét tâm hồn trong sáng, giàu nhân ái của cả hai nhân vật.
Câu 5.
Câu chuyện cho thấy tình bạn đẹp cần sự chân thành và biết nghĩ cho nhau. Ta không nên tự hào quá mức về điều mình có, càng không nên làm bạn bè buồn vì sự khoe khoang. Hạnh phúc thật sự đến từ sự chia sẻ, cảm thông và tôn trọng cảm xúc của người khác. Một tình bạn bền vững là khi mỗi người đều biết nhường nhịn, đồng cảm và giữ cho nhau niềm vui.
Câu 1 : Trong bài thơ Chân quê, hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là nét vẽ đặc sắc thể hiện vẻ đẹp mộc mạc của người con gái thôn quê. Hoa chanh nhỏ, trắng, giản dị nhưng khi nở giữa vườn chanh lại tạo một vẻ đẹp rất riêng: tinh khiết, trong trẻo và tự nhiên. Cũng như vậy, cô gái quê trong bài thơ của Nguyễn Bính đẹp nhất khi giữ nguyên vẻ chân chất, mộc mạc vốn có, không bị pha lẫn bởi những điều hào nhoáng của chốn thị thành. Câu thơ vừa là lời khen kín đáo, vừa là lời nhắn gửi chân thành của chàng trai: anh yêu cái sự quê mùa của em, yêu nét đẹp thuần khiết như bông hoa chanh nở đúng nơi nó thuộc về. Hình ảnh ấy trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp truyền thống của người con gái Việt: giản dị nhưng cuốn hút, không cần tô điểm vẫn toát lên sự duyên dáng và thanh khiết. Nhờ hình ảnh giàu chất dân gian này, hồn thơ Nguyễn Bính càng thêm mộc mạc mà sâu sắc.
Câu 2 : Trong thế kỉ XXI, nhân loại đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc về khoa học – công nghệ, y học và kinh tế. Thế nhưng, càng phát triển, con người càng phải đối diện với những vấn đề mang tính toàn cầu mà không quốc gia nào có thể tự mình giải quyết. Trong số đó, như Barack Obama đã từng khẳng định, “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại.” Đây không chỉ là một nhận định đúng đắn mà còn là lời cảnh tỉnh mạnh mẽ về nguy cơ mà thế giới đang phải đối mặt.
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi lâu dài về nhiệt độ, lượng mưa, thời tiết... chủ yếu do hoạt động của con người như khí thải công nghiệp, phá rừng, ô nhiễm môi trường. Thách thức này lớn, trước hết, bởi nó đe dọa trực tiếp đến sự sống. Nhiệt độ Trái Đất tăng lên gây tan băng ở hai cực, dẫn đến mực nước biển dâng cao, nhấn chìm nhiều vùng đất thấp. Hàng triệu người có nguy cơ mất nhà cửa trong tương lai gần. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng xuất hiện dày đặc hơn và dữ dội hơn khiến môi trường sống trở nên bất ổn. Sự khắc nghiệt ấy gây thiệt hại lớn về người và của, ảnh hưởng đến đời sống của hàng tỷ người trên toàn thế giới.
Không chỉ vậy, biến đổi khí hậu còn đe dọa nguồn lương thực và an ninh năng lượng. Đất đai bị sa mạc hóa, mùa màng thất bát, tài nguyên cạn kiệt khiến việc sản xuất lương thực trở nên khó khăn. Một khi nguồn cung giảm, nạn đói, dịch bệnh và xung đột vì tài nguyên sẽ là điều khó tránh khỏi. Đồng thời, nhiều loài sinh vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng vì môi trường sống bị hủy hoại. Điều này làm mất cân bằng hệ sinh thái – nền tảng tồn tại của chính con người.
Thách thức này càng nguy hiểm hơn vì nó là vấn đề toàn cầu, không biên giới. Một quốc gia dù phát triển đến đâu cũng không thể tự mình thoát khỏi hậu quả của khí hậu biến đổi. Khói bụi từ nước này có thể gây ô nhiễm cho nước khác; việc phá rừng Amazon có thể khiến nhiệt độ toàn cầu tăng nhanh hơn. Nếu nhân loại không hợp tác, không hành động ngay từ hôm nay, thì tương lai của tất cả sẽ bị đe dọa.
Nhận thức rõ điều đó, chúng ta cần hành động từ những việc nhỏ nhất. Mỗi cá nhân có thể bắt đầu bằng việc hạn chế sử dụng túi ni-lông, tiết kiệm điện, trồng cây, sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường… Các quốc gia cần cam kết giảm khí thải, phát triển năng lượng sạch, bảo vệ rừng và đầu tư vào các công nghệ xanh. Đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ đối với thế hệ tương lai.
Tóm lại, biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỉ này. Nó đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của con người và sự ổn định của Trái Đất. Mỗi cá nhân, mỗi quốc gia cần phải hành động ngay trước khi quá muộn. Bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ tương lai chung của toàn nhân loại.
Câu 1 :
Phương thức biểu đạt chính là : Nghị luận .
Câu 2 :
Thể hiện sự rung động chân thành, ấn tượng sâu sắc, xen lẫn bâng khuâng, ám ảnh, cảm giác nhỏ bé và cô đơn trước không gian mênh mông của “Tràng giang”.
Câu 3 :
Thơ xưa tái hiện sự tĩnh vắng bằng cảm giác an nhiên, thanh vắng.
Huy Cận tái hiện sự tĩnh vắng bằng nỗi cô đơn, bơ vơ, trống trải, cảm giác hoang sơ tuyệt đối của con người trong vũ trụ.
Câu 4 :
Các yếu tố được phân tích:
Những từ láy: “điệp điệp”, “song song”, “lớp lớp”, “dồn dập”…
Biện pháp tu từ: điệp cấu trúc, lặp cú pháp, đối xứng, trùng điệp.
Các hình ảnh gợi sự nối tiếp, kéo dài: “hàng nối hàng”, “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
Tất cả tạo nên cảm giác dòng chảy miên man, bất tận.
Câu 5 :
Em ấn tượng nhất với không gian mênh mông, hoang vắng của Tràng giang. Bởi qua ngôn ngữ tinh tế của Huy Cận, cảnh sông nước trở nên vô tận, gợi cảm giác cô đơn sâu sắc và nỗi nhớ quê hương da diết. Chính vẻ đẹp buồn ấy tạo nên chất cổ điển mà vẫn rất hiện đại cho bài thơ.
Trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Trong mối quan hệ cộng sinh này cây cung cấp sản phẩm quang hợp cho đời sống và hoạt động của vi khuẩn ngược lại Vi khuẩn có vai trò cố định n2 tự do từ không khí thành NH3 vừa cung cấp cho cây vừa cung cấp cho đất.
a) - Môi trường nuôi cấy không liên tục là môi trường không được bổ sung chất dinh dưỡng mới và không được lấy đi các sản phẩm trao đổi chất sự sinh trưởng của vi khuẩn.
- môi trường nuôi cấy liên tục là môi trường thường xuyên được bổ sung chất dinh dưỡng và loại bỏ các sản phẩm trao đổi chất.
b) - Gồm 4 pha:
+ Pha tiềm phát ( pha lag) : tính từ khi vi khuẩn được nuôi cấy cho đến khi chúng bắt đầu sinh trưởng (phân chia). Ở pha này, vi khuẩn dần thích nghi với môi trường, tổng hợp vật chất chuẩn bị cho sự phân chia.
+ Pha lũy thừa ( pha log) : vi sinh vật phân chia mạnh mẽ theo tiềm năng số lượng tế bào tăng theo lũy thừa và đạt đến cực đại ở cuối pha.
+ Pha cân bằng: dinh dưỡng trong môi trường giảm chất độc hại tăng. Tốc độ sinh trưởng và trao đổi chất của vi sinh vật giảm. Lượng tế bào sinh ra bằng lượng tế bào chết đi.
+ Pha suy vong: số lượng tế bào trong quần thể ngày càng giảm cho chất dinh dưỡng cạn kiệt chất độc hại tích lũy ngày càng nhiều.
Câu 1:
Nhân vật Bê-li-cốp trong đoạn trích "Người trong bao" của Anton Chekhov là hình ảnh tiêu biểu của những con người sống khép kín, sợ hãi và luôn tìm cách trốn tránh thực tế. Bê-li-cốp là một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp, nhưng những hành động và lối sống của ông không phản ánh sự cởi mở, gần gũi mà ngược lại, luôn tìm cách bảo vệ mình khỏi mọi ảnh hưởng bên ngoài. Ông luôn mặc áo bành tô, mang giày cao su, đeo kính râm, tai nhét bông, sống trong một “vỏ bọc” kín mít, từ chối tiếp xúc trực tiếp với thế giới xung quanh. Bê-li-cốp không chỉ thể hiện sự sợ hãi qua trang phục mà còn qua cách ông sống, luôn ca ngợi quá khứ, tìm cách tránh xa thực tại. Hình ảnh Bê-li-cốp là một biểu tượng cho những người sống trong sự an toàn giả tạo, luôn né tránh mọi thử thách, không dám đối diện với thực tế. Chính vì vậy, nhan đề "Người trong bao" đã khắc họa rõ nét đặc trưng nhân vật này, nhấn mạnh sự cô lập, khép kín trong cuộc sống của Bê-li-cốp và cũng phản ánh một vấn đề xã hội lớn lao về sự sợ hãi đối với cuộc sống và thay đổi.
Câu 2 :
Suy nghĩ về ý nghĩa của việc bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân
Trong cuộc sống, mỗi người đều có một "vùng an toàn" riêng, nơi họ cảm thấy thoải mái và không có sự đe dọa. Đó có thể là công việc quen thuộc, những mối quan hệ an toàn, hay những thói quen giúp họ tránh xa sự lo lắng, sợ hãi. Tuy nhiên, việc luôn sống trong vùng an toàn không chỉ làm cho chúng ta không có cơ hội phát triển mà còn khiến cuộc sống trở nên nhàm chán và thiếu động lực.
Bước ra khỏi vùng an toàn là một hành động đầy dũng cảm và cần thiết để tiến bộ trong cuộc sống. Khi chúng ta chấp nhận thử thách, đối diện với những điều không quen thuộc, đó là lúc chúng ta trưởng thành và khám phá ra những khả năng tiềm ẩn mà trước đó chưa từng biết đến. Điều này giúp chúng ta có thể vượt qua những giới hạn của bản thân, học hỏi và trưởng thành qua những trải nghiệm mới mẻ. Chính những khó khăn và thử thách trong quá trình này mới là những bài học quý giá giúp chúng ta nhận ra sức mạnh và sự kiên trì của chính mình.
Tuy nhiên, bước ra khỏi vùng an toàn không có nghĩa là hành động một cách liều lĩnh hay thiếu suy nghĩ. Việc ra quyết định này cần phải có sự chuẩn bị, sự can đảm để đối diện với thất bại và học cách đứng dậy từ những vấp ngã. Vùng an toàn chỉ là một điểm khởi đầu, một nơi để chúng ta tìm kiếm sự ổn định trước khi đối mặt với những thử thách lớn hơn. Nếu không rời khỏi nó, chúng ta sẽ chỉ mãi đứng tại chỗ, không thể phát triển và không thể thay đổi.
Việc bước ra khỏi vùng an toàn còn giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn, cải thiện khả năng giao tiếp, học hỏi từ những người khác và có thể tạo ra những cơ hội mới trong cuộc sống. Cũng như một hạt giống, nếu không ra khỏi vỏ, nó sẽ không thể nảy mầm và phát triển thành cây. Khi bước ra khỏi vùng an toàn, chúng ta sẽ nhận thấy rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng chính những thử thách đó lại là yếu tố cần thiết để tạo nên những thành công vững chắc trong tương lai.
Cuối cùng, bước ra khỏi vùng an toàn là một hành động mạnh mẽ, khẳng định sự sẵn sàng của bản thân trong việc đối mặt với mọi khó khăn và thay đổi. Đó là cách để chúng ta làm chủ cuộc sống, tìm ra đam mê và đạt được những mục tiêu mà trước đây tưởng chừng như không thể. Việc dám thay đổi, dám vượt qua nỗi sợ hãi chính là chìa khóa để mở ra cánh cửa của sự trưởng thành và thành công.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính trong bài là miêu tả. Đoạn trích miêu tả chi tiết về nhân vật Bê-li-cốp và các đặc điểm, hành vi của ông ta để làm nổi bật tính cách của nhân vật.
Câu 2 :
Nhân vật trung tâm của đoạn trích là Bê-li-cốp. Đoạn trích tập trung vào việc miêu tả các đặc điểm, tính cách và hành vi của nhân vật này.
Câu 3 :
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất (tôi). Tác dụng của ngôi kể này là tạo cảm giác gần gũi, chân thực với người đọc, vì người kể là một nhân vật đồng nghiệp của Bê-li-cốp, có sự quan sát và trải nghiệm trực tiếp với những hành động, đặc điểm của Bê-li-cốp.
Câu 4 :
Những chi tiết miêu tả chân dung nhân vật Bê-li-cốp gồm:
Ngoại hình: Bê-li-cốp luôn mặc áo bành tô ấm, mang giày cao su, cầm ô, đeo kính râm, tai nhét bông, luôn giữ mặt giấu sau cổ áo.
Hành vi: Luôn tìm cách tránh né cuộc sống thực, thích giữ mình trong một vỏ bọc, không giao tiếp hay tham gia vào những hoạt động xã hội.
Thái độ sống: Sống trong quá khứ, ghê tởm hiện tại, tìm cách trốn tránh mọi ảnh hưởng bên ngoài.
Nhân vật này bị miêu tả như một người luôn cố gắng bảo vệ mình khỏi mọi tác động bên ngoài, thể hiện qua việc luôn "ẩn mình" trong chiếc bao (vỏ bọc). Nhan đề "Người trong bao" ám chỉ việc Bê-li-cốp luôn sống trong một vỏ bọc, không dám đối diện với thực tại, không muốn mở lòng với thế giới xung quanh.
Câu 5 : Bài học rút ra từ đoạn trích là : Không nên sống khép kín, trốn tránh hiện tại và cuộc sống xung quanh. Chúng ta cần phải đối diện với thử thách và khó khăn, mở lòng với thế giới, thay vì sống trong sự sợ hãi và luôn tìm cách trốn tránh
Cuộc sống cần phải được sống một cách chủ động, không nên để nỗi sợ hay những tác động bên ngoài chi phối quá mức.
Câu 1 :
Trong văn bản "Chiếu cầu hiền tài," Nguyễn Trãi đã sử dụng một nghệ thuật lập luận chặt chẽ và hợp lý, làm nổi bật tầm quan trọng của việc tuyển chọn hiền tài. Ông mở đầu bằng một lý lẽ khái quát về sự thịnh vượng của đất nước, nhấn mạnh rằng "Được thịnh trị tất ở việc cử hiền," qua đó tạo nền tảng lý thuyết cho lập luận của mình. Tiếp theo, Nguyễn Trãi đưa ra các dẫn chứng lịch sử từ các triều đại Hán, Đường, ví dụ như Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, để khẳng định rằng việc tiến cử hiền tài là truyền thống lâu đời và rất cần thiết cho sự phát triển quốc gia. Việc đưa dẫn chứng này không chỉ mang tính thuyết phục mà còn tạo sự liên kết giữa lý thuyết và thực tiễn. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng lập luận thực tế, khi trình bày tình hình của nhà vua và khẳng định rằng, dù đã có quyền lực trong tay, nhưng việc thiếu người tài vẫn là một trở ngại lớn. Cuối cùng, Nguyễn Trãi khéo léo kết hợp chính sách khen thưởng đối với việc tiến cử người tài, từ đó tạo động lực cho các quan lại và các tầng lớp khác trong xã hội tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước.
Câu 2 :
“Chảy máu chất xám” là một hiện tượng không còn xa lạ với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Hiện tượng này được hiểu là tình trạng người tài, đặc biệt là những người có trình độ học vấn cao, chuyên môn vững vàng, lựa chọn ra đi làm việc ở nước ngoài, bỏ lại đất nước với những cơ hội phát triển nhưng thiếu đi nguồn nhân lực chất lượng. Điều này không chỉ là một vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề về phát triển xã hội, khoa học công nghệ, và tương lai của đất nước.
Nguyên nhân của hiện tượng “chảy máu chất xám” tại Việt Nam hiện nay có thể xuất phát từ nhiều yếu tố. Thứ nhất, môi trường làm việc và nghiên cứu trong nước còn nhiều bất cập. Dù trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều cải cách, nhưng nền tảng khoa học – công nghệ vẫn còn yếu. Các viện nghiên cứu, trường đại học thiếu cơ sở vật chất hiện đại, chưa đủ mạnh để thu hút và giữ chân nhân tài. Hơn nữa, mức đãi ngộ đối với những người có trình độ cao như tiến sĩ, thạc sĩ, chuyên gia đầu ngành còn thấp, không đủ để họ phát huy hết khả năng sáng tạo và đóng góp cho đất nước.
Thứ hai, cơ hội nghề nghiệp ở các nước phát triển hấp dẫn hơn rất nhiều so với trong nước. Các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Đức hay Singapore không chỉ cung cấp mức lương cao hơn mà còn có môi trường nghiên cứu, học hỏi và làm việc lý tưởng hơn. Các chính sách thu hút nhân tài của các quốc gia này tạo ra nhiều cơ hội cho những người có học vấn cao, không chỉ về mặt tài chính mà còn về cơ hội phát triển nghề nghiệp. Hơn nữa, chính sách về bảo vệ quyền lợi và hỗ trợ nghiên cứu, sáng tạo ở các quốc gia phát triển cũng rất mạnh mẽ, điều này khiến không ít người Việt lựa chọn ra đi.
Thứ ba, việc thiếu các chính sách khuyến khích và thu hút tài năng trở lại cũng là một yếu tố quan trọng. Mặc dù nhà nước đã có một số chính sách hỗ trợ người Việt ở nước ngoài quay về cống hiến cho đất nước, nhưng các chính sách này chưa thực sự hấp dẫn và hiệu quả. Sự chênh lệch về mức sống, cơ hội nghề nghiệp và môi trường làm việc khiến nhiều người tài dù muốn trở về vẫn phải đắn đo.
Hệ quả của hiện tượng “chảy máu chất xám” là rất nghiêm trọng đối với sự phát triển của đất nước. Khi nguồn nhân lực chất lượng cao bị thất thoát, nền khoa học công nghệ của Việt Nam sẽ thiếu đi những con người sáng tạo, có khả năng giải quyết các vấn đề lớn của xã hội. Điều này sẽ làm chậm quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, đồng thời làm giảm năng suất lao động và khả năng cạnh tranh quốc gia. Hơn nữa, khi nguồn nhân lực tài năng không được giữ lại, Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong việc hội nhập và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Để giải quyết vấn đề này, Việt Nam cần phải cải thiện môi trường làm việc và nghiên cứu trong nước. Các cơ sở nghiên cứu, trường đại học cần đầu tư vào cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu. Mức đãi ngộ đối với các chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên cần được cải thiện để họ có thể yên tâm cống hiến cho đất nước. Các chính sách thu hút nhân tài trở lại cũng cần được thiết kế hợp lý hơn, không chỉ về mặt tài chính mà còn về cơ hội nghề nghiệp và phát triển cá nhân.
Bên cạnh đó, cần phải xây dựng một môi trường làm việc công bằng, minh bạch, nơi mà những người có tài có thể phát huy hết khả năng của mình mà không phải đối mặt với các yếu tố cản trở như tham nhũng, bất công. Điều này sẽ giúp giữ chân những người tài và tạo động lực để họ tiếp tục cống hiến cho đất nước.
Trong tương lai, để ngừng hiện tượng “chảy máu chất xám,” Việt Nam cần phải tạo ra một môi trường thuận lợi để người tài có thể phát triển và đóng góp, đồng thời khuyến khích các chính sách thu hút và giữ chân nhân tài, từ đó xây dựng một đất nước vững mạnh và hội nhập quốc tế thành công