Nguyễn Khánh Bi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Khánh Bi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Bài thơ "Than đạo học" là một tiếng thở dài đầy xót xa trước thực trạng suy vi của nền học vấn nước nhà vào giai đoạn giao thời. Về nội dung, tác phẩm đã phản chiếu chân thực sự xuống cấp của "đạo học" khi giá trị của trí tuệ và nhân cách không còn được coi trọng như trước. Những kẻ theo đuổi nghiệp đèn sách giờ đây không còn giữ được cái "tâm" sáng, mà thay vào đó là sự thực dụng, biến việc học thành công cụ cầu danh lợi. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng bút pháp hiện thực sắc sảo kết hợp với giọng điệu mỉa mai, chua chát. Cách sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh và các phép đối lập tương phản giữa quá khứ hào hùng của đạo học và thực tại nhếch nhác đã tạo nên sức nặng cho lời phê phán. Qua đó, tác giả không chỉ thể hiện nỗi đau trước sự đổi thay của thời thế mà còn bộc lộ tấm lòng ưu ái với vận mệnh văn hóa dân tộc. Tóm lại, bằng sự kết hợp hài hòa giữa nội dung sâu sắc và hình thức nghệ thuật điêu luyện, bài thơ đã thức tỉnh người đọc về giá trị đích thực của sự học trong mọi thời đại. Câu 2: Trong dòng chảy hối hả của kỷ nguyên số, giáo dục vẫn luôn là "chìa khóa vàng" để mở cửa tương lai. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế, ý thức học tập của học sinh hiện nay đang là một bức tranh đa sắc với cả những mảng sáng hy vọng và những khoảng tối đáng lo ngại. Trước hết, không thể phủ nhận đại bộ phận học sinh ngày nay rất năng động và có ý thức tự học cao. Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ, các bạn không còn bó hẹp kiến thức trong sách giáo khoa mà chủ động tìm kiếm học liệu trên internet, tham gia các khóa học trực tuyến và các câu lạc bộ ngoại khóa. Nhiều gương mặt trẻ đã làm rạng danh đất nước trên đấu trường trí tuệ quốc tế, minh chứng cho một thế hệ dám nghĩ, dám làm và có khát vọng chinh phục đỉnh cao tri thức. Tuy nhiên, bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ học sinh đang rơi vào tình trạng "học vẹt", học đối phó. Nhiều bạn đến trường chỉ để lấy điểm số hoặc làm vui lòng cha mẹ mà thiếu đi niềm đam mê thực sự. Sự bùng nổ của mạng xã hội, trò chơi điện tử và những thú vui tiêu khiển tức thời đã khiến không ít học sinh xao nhãng, dẫn đến việc mất gốc kiến thức. Đáng ngại hơn là tình trạng gian lận trong thi cử vẫn còn hiện hữu, cho thấy một sự lệch lạc trong tư duy: coi trọng bằng cấp hơn thực chất. Nguyên nhân của tình trạng này đến từ nhiều phía. Về khách quan, áp lực từ chương trình học nặng nề và kỳ vọng quá lớn từ gia đình đôi khi khiến các em cảm thấy mệt mỏi. Về chủ quan, chính là do các em chưa xác định được mục đích học tập đúng đắn và thiếu kỹ năng quản lý thời gian, dễ bị lôi kéo bởi những cám dỗ bên ngoài. Để cải thiện ý thức học tập, mỗi học sinh cần hiểu rằng: "Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình". Nhà trường và gia đình cần thay đổi phương pháp giáo dục, giảm bớt áp lực điểm số và khuyến khích sự sáng tạo. Bản thân mỗi cá nhân phải tự rèn luyện tính kỷ luật, biến việc học thành một nhu cầu tự thân thay vì một gánh nặng. Tóm lại, ý thức học tập chính là yếu tố quyết định vận mệnh của mỗi cá nhân và sự phát triển của quốc gia. Đứng trước ngưỡng cửa của tương lai, mỗi học sinh cần nhìn nhận lại thái độ của mình, hãy học bằng cả trái tim và sự cầu thị, bởi lẽ "tri thức là sức mạnh", và chỉ có học tập mới giúp chúng ta đứng vững trên đôi chân của chính mình.

Câu 1. Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2. Đề tài: Đạo học/ Sự suy tàn của Nho học. Câu 3. Tác giả cho rằng "Đạo học ngày nay chán lắm rồi" vì đạo học không còn được coi trọng như trước. Việc học hành sa sút, nhiều người chán chường, lựa chọn bỏ học, sĩ khí giảm sút và mục tiêu của việc học không còn vì đạo lí hay trí tuệ mà đã trở nên thực dụng, chạy theo danh lợi. Câu 4. Những từ láy được sử dụng trong văn bản: lim dim, nhấp nhổm, rụt rè, liều lĩnh. Nhận xét: Những từ láy kể trên có tác dụng gợi tả một cách chân thực sự uể oải khi chẳng có người mua sách, sự sốt ruột khi không có người theo học, sự dè dặt, e ngại và sự bất chấp của những sĩ tử thời bấy giờ. Tất cả những chi tiết ấy đã góp phần tạo nên bối cảnh thực tiễn Nho học suy tàn. Câu 5. Nội dung: Bài thơ đã khắc họa thành công bối cảnh đạo học suy tàn cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, qua đó, thể hiện nỗi buồn, sự chua xót của tác giả khi việc học hành không được coi trọng, sĩ khí của những nhà Nho giảm sút, con người chạy theo lợi ích thực dụng thay vì những lý tưởng cao đẹp.

Câu 1:

Sau khi đọc "Những dặm đường xuân" của Băng Sơn, em cảm nhận được vẻ đẹp rực rỡ và tràn đầy sức sống của mùa xuân, từ thiên nhiên đến con người và nhịp sống trên đường phố. Văn bản khắc họa một bức tranh xuân đầy sống động với sắc hoa đào, mai, quất, tiếng rao hàng rộn rã và không khí nhộn nhịp của ngày Tết. Qua đó, bài viết khơi gợi trong em tình yêu quê hương, đất nước và sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Em cảm thấy lòng mình tràn đầy những xúc cảm rạo rực, bâng khuâng khi đọc bài văn. Nhà văn Băng Sơn đã sử dụng những chi tiết giản dị, gần gũi để vẽ nên một mùa xuân thanh khiết, trong lành và đầy sức sống. Đọc tác phẩm, em thêm yêu và hiểu rõ hơn về hương vị Tết cổ truyền, nét đẹp văn hóa mà nhiều người con xa quê luôn nhớ về. Điều đó nhắc nhở em về sự cần thiết phải trân trọng những điều giản dị, quen thuộc, bởi chúng chính là cội nguồn hạnh phúc và nuôi dưỡng tâm hồn con người. 



Câu 2:


Trong thời buổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay. Học sinh chúng ta có nhiều cơ hội hơn để được trau dồi, tiếp thu kiến thức, mở mang tầm hiểu biết và hội nhập với thế giới. Tuy nhiên, để hoàn thiện bản thân mình hơn trong cách sống cũng như tâm hồn, chúng ta cần phải tích cực tìm hiểu, bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Một thực trạng mà ai cũng nhận thấy đó là xã hội đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người hòa nhập, cởi mở hơn với những nền văn hóa mới của nhiều quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, đôi lúc chúng ta lại quên đi, bỏ bê nét đẹp, truyền thống văn hóa của chính đất nước mà chúng ta sinh ra, lớn lên. Nhiều bản sắc đã bị mai một, giới trẻ ngày càng ít quan tâm, tìm hiểu về những truyền thống, bản sắc đó. Từ sự vô tâm, vô tư đó mà những giá trị truyền thống tốt đẹp ngày càng bị mai một dần đi, nhiều bản sắc đã và đang dần mất đi. Những lễ hội, nhưng cuộc thi dân gian không còn nhận được nhiều sự quan tâm của con người hoặc chỉ mang dáng dấp hình thức. Đối với những bạn trẻ hiện nay, họ không quá mặn mà với những truyền thống, bản sắc đó mà họ hướng đến những thứ hướng ngoại hơn, hiện đại hơn. Chính những điều này đã làm con người đánh mất đi giá trị cốt lõi của đất nước mình.Để giải quyết thực trạng trên, mỗi cá nhân đặc biệt là học sinh chúng ta phải tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc, giữ gìn và phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu. Bên cạnh đó, nhà trường cần tổ chức nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền, mang đến cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc. Học sinh chúng ta cần phải đặt trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lên hàng đầu, tích cực trau dồi hiểu biết của mình về những giá trị văn hóa tốt đẹp của nước nhà. Có như vậy, những bản sắc văn hóa dân tộc mới được giữ gìn và duy trì tốt đẹp. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm chung của tất cả những con người Việt Nam mang dòng máu đỏ da vàng chúng ta. Chính vì thế, ta cần có ý thức giữ gìn và phát huy những truyền thống đó để nó ngày càng đẹp đẽ và phát triển rộng rãi hơn.

1. Xác định thể loại của văn bản → tùy bút.



2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác → mùa xuân, dịp Tết đến.



3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về → tươi vui, rộn ràng, đầy sức sống; người người chuẩn bị Tết; cánh đồng, bầu trời, âm thanh, sắc màu đều sinh động.



4. Tác dụng của biện pháp liệt kê → làm nổi bật không khí mùa xuân náo nức, tràn đầy niềm vui, thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả với cuộc sống và quê hương.



5. Nội dung chính của văn bản → ca ngợi vẻ đẹp của đất trời và con người Việt Nam khi xuân về; bộc lộ tình yêu quê hương, niềm tin yêu cuộc sống.