TRẦN NGUYỄN MINH ANH
Giới thiệu về bản thân
Việc anh H viết đơn kiến nghị là thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân, vì:
- Anh đã đóng góp ý kiến với chính quyền.
- Tham gia giải quyết vấn đề chung của cộng đồng (môi trường).
b. Trả lời:
Để đảm bảo quyền này, chính quyền địa phương cần:
- Tiếp nhận và xem xét ý kiến, kiến nghị của anh H.
- Phản hồi, giải quyết vấn đề rác thải.
- Tạo điều kiện để người dân góp ý, tham gia quản lý (họp dân, kênh phản ánh…).
- Triển khai biện pháp cụ thể như xây thêm điểm thu gom rác, tuyên truyền nâng cao ý thức.
Việc anh H viết đơn kiến nghị là thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân, vì:
- Anh đã đóng góp ý kiến với chính quyền.
- Tham gia giải quyết vấn đề chung của cộng đồng (môi trường).
b. Trả lời:
Để đảm bảo quyền này, chính quyền địa phương cần:
- Tiếp nhận và xem xét ý kiến, kiến nghị của anh H.
- Phản hồi, giải quyết vấn đề rác thải.
- Tạo điều kiện để người dân góp ý, tham gia quản lý (họp dân, kênh phản ánh…).
- Triển khai biện pháp cụ thể như xây thêm điểm thu gom rác, tuyên truyền nâng cao ý thức.
Câu 1 (2.0 điểm)
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong văn bản “Chiếu cầu hiền tài”:
Nguyễn Trãi đã vận dụng nghệ thuật lập luận chặt chẽ, giàu tính thuyết phục trong Chiếu cầu hiền tài. Trước hết, ông sử dụng lối lập luận diễn dịch: mở đầu văn bản là một luận điểm tổng quát – việc cử người hiền là yếu tố quan trọng hàng đầu để đất nước được thịnh trị. Từ đó, ông triển khai bằng hàng loạt luận cứ cụ thể, dẫn chứng lịch sử sinh động và xác đáng như: Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh,… Những ví dụ ấy vừa thể hiện sự hiểu biết uyên bác của người viết, vừa góp phần nâng cao tính thuyết phục cho lời chiếu. Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn khéo léo kết hợp lý lẽ với cảm xúc, thể hiện qua những lời lẽ chân thành, khiêm tốn, như “trẫm… sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu”, thể hiện tấm lòng tha thiết cầu hiền vì dân, vì nước. Cuối cùng, ông mở rộng cánh cửa cho mọi tầng lớp xã hội được tự tiến cử, thể hiện tư tưởng tiến bộ, dân chủ. Tất cả tạo nên một bài chiếu vừa thuyết phục về lý, vừa lay động về tình.
Câu 2 (4.0 điểm)
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng “chảy máu chất xám” tại Việt Nam hiện nay (khoảng 600 chữ):
Trong thời đại toàn cầu hóa, khi biên giới tri thức và cơ hội nghề nghiệp ngày càng mở rộng, Việt Nam đang phải đối mặt với một thực trạng đáng lo ngại: hiện tượng “chảy máu chất xám”. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ chuyên môn cao, đặc biệt là những người trẻ tài năng, lựa chọn sinh sống, học tập và làm việc lâu dài ở nước ngoài thay vì cống hiến cho đất nước.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Trước hết, môi trường làm việc trong nước còn thiếu tính cạnh tranh lành mạnh, cơ hội thăng tiến hạn chế, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với năng lực khiến nhiều người tài không tìm thấy động lực cống hiến. Thêm vào đó, những quốc gia phát triển lại có cơ sở vật chất hiện đại, hệ thống giáo dục tiên tiến, chính sách trọng dụng nhân tài hiệu quả và minh bạch. Điều đó khiến họ trở thành điểm đến hấp dẫn với trí thức trẻ Việt Nam.
Hệ lụy của hiện tượng này là rất nghiêm trọng. Đất nước sẽ mất đi một lực lượng lao động trí thức quan trọng, làm giảm năng lực sáng tạo và sức cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực như khoa học, công nghệ, y tế, giáo dục… Đây cũng là rào cản lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thậm chí, khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và các quốc gia phát triển ngày càng bị kéo giãn.
Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể đổ lỗi hoàn toàn cho những người ra đi. Trong một thế giới phẳng, việc lựa chọn môi trường phù hợp để phát triển là quyền cá nhân chính đáng. Điều quan trọng hơn là Việt Nam cần xây dựng một cơ chế thu hút và giữ chân nhân tài: cải thiện chính sách đãi ngộ, tạo môi trường làm việc năng động, công bằng, minh bạch; đồng thời khuyến khích người Việt ở nước ngoài đóng góp bằng nhiều hình thức như chuyển giao tri thức, đầu tư, cố vấn, hợp tác…
Chảy máu chất xám không phải là bài toán dễ giải, nhưng nếu biết nhìn nhận đúng vấn đề và quyết tâm đổi mới, Việt Nam hoàn toàn có thể giữ được người tài và biến nguồn lực ấy thành động lực phát triển đất nước. Giữ chân nhân tài cũng chính là giữ gìn tương lai dân tộc.
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là: Nghị luận.
Câu 2 (0.5 điểm):
Chủ thể bài viết là: Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi).
Câu 3 (1.0 điểm):
- Mục đích chính của văn bản:
Là để kêu gọi, khuyến khích việc tiến cử và tự tiến cử người hiền tài nhằm giúp vua xây dựng đất nước trong buổi đầu mới giành được độc lập.
- Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập:
- Các đại thần từ tam phẩm trở lên phải tiến cử người có tài.
- Cho phép người có tài tự tiến cử mình với triều đình (tự đề đạt).
- Không phân biệt người đã làm quan hay chưa, ở triều đình hay ở thôn quê, chỉ cần có tài thì đều được trọng dụng.
Câu 4 (1.0 điểm):
- Dẫn chứng được đưa ra:
Các bậc danh thần thời Hán, Đường như:
- Tiêu Hà tiến cử Tào Tham
- Nguy Vô Tri tiến cử Trần Bình
- Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh
- Tiêu Tung tiến Hàn Hưu
- Nhận xét cách nêu dẫn chứng:
- Chọn lọc tiêu biểu, thuyết phục: Những ví dụ đều là các vị quan nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa, từng có công lao lớn giúp triều đại hưng thịnh.
- Hợp lý, dễ hiểu: Gắn với bối cảnh lịch sử, tăng tính xác thực, có tác dụng làm rõ và củng cố luận điểm về tầm quan trọng của việc tiến cử người hiền tài.
Câu 5 (1.0 điểm):
Phẩm chất của chủ thể bài viết – vua Lê Thái Tổ – qua văn bản:
- Là người trọng hiền tài, nhận thức sâu sắc vai trò của người tài trong việc trị quốc, an dân.
- Có tinh thần cầu thị, khiêm tốn, biết lắng nghe và mong muốn thu hút nhân tài từ mọi tầng lớp xã hội.
- Có tầm nhìn xa, xây dựng đường lối đúng đắn để phát triển đất nước.
- Là người quyết đoán, thiết thực, đưa ra chính sách cụ thể để tuyển dụng hiền tài và khuyến khích cả tiến cử lẫn tự tiến cử.
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn phân tích truyện ngắn (khoảng 200 chữ)
Truyện ngắn Con chim vàng là một tác phẩm đầy xúc động, phơi bày sự bất công trong xã hội và số phận đau thương của những đứa trẻ nghèo bị bóc lột. Nhân vật Bào – cậu bé ở đợ, hiện lên với hình ảnh đáng thương nhưng cũng đầy nghị lực. Em phải sống trong cảnh nợ nần, bị đánh đập, sai khiến chỉ vì món nợ hai thúng thóc. Khát vọng được yêu thương, khao khát được công nhận khiến Bào cố gắng bắt con chim vàng – biểu tượng cho cái đẹp, tự do và hạnh phúc – dù biết có thể nguy hiểm đến tính mạng. Hành động trèo cây, chụp chim thể hiện sự hy sinh, sự cam chịu tột cùng của một đứa trẻ nghèo. Cái kết bi thảm – khi chim chết, Bào bị thương nặng nhưng bà chủ chỉ xót con chim chứ không đoái hoài đến em – là một tiếng thét tố cáo sự vô cảm và bất công của xã hội phong kiến. Tác phẩm khiến người đọc day dứt, xót xa, từ đó khơi dậy lòng trắc ẩn và tình yêu thương giữa người với người.
⸻
Câu 2 (4.0 điểm): Viết bài văn khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình yêu thương trong cuộc sống
Tình yêu thương là một trong những giá trị nhân văn cốt lõi, là sợi dây vô hình gắn kết con người lại với nhau trong cuộc sống đầy biến động và thử thách. Không có tình yêu thương, con người dễ trở nên vô cảm, cô độc và cuộc sống trở nên khô cằn, lạnh lẽo.
Tình yêu thương là sự đồng cảm, chia sẻ, sẵn sàng quan tâm, giúp đỡ người khác bằng tấm lòng chân thành. Nó không chỉ thể hiện qua lời nói mà còn qua hành động cụ thể – như một ánh mắt cảm thông, một vòng tay an ủi, hay một sự sẻ chia trong lúc khó khăn. Chính tình yêu thương khiến con người trở nên nhân hậu, biết sống vì người khác, biết hy sinh cái tôi ích kỷ để hướng đến cái chung tốt đẹp hơn.
Trong cuộc sống hiện đại với guồng quay nhanh và nhiều áp lực, tình yêu thương càng trở nên cần thiết. Khi con người phải đối mặt với cô đơn, bệnh tật, mất mát hay thất bại, một lời động viên, một hành động giúp đỡ nhỏ bé cũng có thể làm dịu đi nỗi đau, khơi dậy niềm tin và hy vọng. Tình yêu thương còn góp phần tạo nên một xã hội nhân văn, công bằng và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, không phải ai cũng dễ dàng trao đi tình thương. Sự ích kỷ, vô cảm hay lối sống thực dụng khiến nhiều người khép lòng với những người xung quanh. Đó là một thực trạng đáng buồn và là hồi chuông cảnh tỉnh cho mỗi chúng ta về cách sống của mình. Yêu thương không đòi hỏi vật chất lớn lao mà chỉ cần sự chân thành và trái tim biết cảm nhận.
Mỗi chúng ta hãy học cách sống yêu thương, bắt đầu từ những điều giản dị nhất: giúp đỡ bạn bè, sẻ chia với người thân, thông cảm với người xa lạ. Bởi lẽ, yêu thương là điều khiến con người trở nên đẹp hơn, khiến thế giới trở nên đáng sống hơn. Như M.Gandhi từng nói: “Nơi nào có tình yêu thương, nơi đó có sự sống”.
Tóm lại, tình yêu thương không chỉ là giá trị đạo đức mà còn là nguồn năng lượng nuôi dưỡng tâm hồn con người. Hãy yêu thương để được yêu thương, bởi khi cho đi một tấm lòng, ta nhận lại cả một bầu trời nhân nghĩa.
Câu 1 (0.5 điểm):
Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật (mỗi câu 7 chữ, gồm 8 câu).
Câu 2 (0.75 điểm):
Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả:
- “Một mai, một cuốc, một cần câu”: những dụng cụ lao động giản dị, gắn với cuộc sống thôn quê.
- “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá”: món ăn từ cây cỏ tự nhiên, thể hiện lối sống thanh đạm.
- “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”: sinh hoạt giản dị, hài hòa với thiên nhiên.
Câu 3 (0.75 điểm):
Biện pháp tu từ liệt kê: “một mai, một cuốc, một cần câu”
Tác dụng:
- Làm nổi bật sự đơn sơ, mộc mạc trong cuộc sống của tác giả.
- Gợi hình ảnh một con người gần gũi với lao động và thiên nhiên.
- Thể hiện sự tự tại, an nhiên, không bon chen với đời.
Câu 4 (1.0 điểm):
Quan niệm dại – khôn đặc biệt của tác giả:
- Tác giả tự nhận mình là “dại” vì chọn sống ở nơi “vắng vẻ”, tránh xa chốn quan trường, xô bồ.
- Ngược lại, người đời được cho là “khôn” lại đến nơi “lao xao”, tức chốn bon chen, danh lợi.
- Quan niệm này thể hiện lối sống ẩn dật, thanh cao, coi thường vinh hoa phú quý – một cái nhìn nghịch lý nhưng sâu sắc, giàu triết lí.
Câu 5 (1.0 điểm):
Đoạn văn cảm nhận:
Bài thơ thể hiện vẻ đẹp nhân cách cao quý của Nguyễn Bỉnh Khiêm – một con người sống thanh đạm, hòa mình với thiên nhiên và có lối sống ẩn dật, tránh xa danh lợi. Ông chọn cuộc sống bình dị nhưng tự do, không bị ràng buộc bởi vinh hoa phú quý. Qua đó, ta cảm nhận được một tấm lòng thanh cao, một trí tuệ uyên thâm và một triết lý sống sâu sắc, vượt thời đại.
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về tầm quan trọng của lối sống chủ động trong cuộc sống ngày nay (khoảng 200 chữ)
Trong cuộc sống hiện đại, lối sống chủ động đóng vai trò vô cùng quan trọng, góp phần quyết định sự thành công và hạnh phúc của mỗi con người. Sống chủ động là biết tự mình lên kế hoạch, đối mặt và giải quyết vấn đề, không trông chờ hay phụ thuộc vào người khác. Trong xã hội cạnh tranh ngày nay, người chủ động luôn nắm bắt cơ hội nhanh hơn, dễ thích nghi và vững vàng trước những thay đổi. Họ biết đặt mục tiêu, kiên trì thực hiện và không ngại thất bại để trưởng thành. Ngược lại, người sống thụ động dễ bị tụt lại phía sau, mất phương hướng và thiếu sự kiểm soát cuộc sống. Tuy nhiên, sống chủ động không có nghĩa là hấp tấp hay liều lĩnh, mà cần sự suy xét, tính toán và kiên định. Mỗi chúng ta, đặc biệt là giới trẻ, cần rèn luyện lối sống chủ động từ những điều nhỏ nhất: tự học, tự làm, tự chịu trách nhiệm. Chỉ khi làm chủ được bản thân, ta mới có thể làm chủ tương lai. Lối sống chủ động chính là chìa khóa mở ra cánh cửa thành công và hạnh phúc bền lâu trong cuộc đời.
Câu 2 (4.0 điểm): Cảm nhận về bài thơ “Bảo kính cảnh giới” số 43 của Nguyễn Trãi
Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” số 43 của Nguyễn Trãi vẽ nên một bức tranh mùa hè thanh bình và tràn đầy sức sống nơi thôn dã, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân nghĩa và lý tưởng trị quốc của ông. Mở đầu bài thơ là không gian thiên nhiên sinh động: “Hoè lục đùn đùn tán rợp trương” – gợi tán hoè xanh ngắt, tươi tốt, tràn đầy sức sống; “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ” – hình ảnh rực rỡ, tươi vui. Hương sắc mùa hè tiếp tục lan tỏa qua “Hồng liên trì đã tịn mùi hương”, thể hiện sự hài hòa, tĩnh lặng mà đầy thơ mộng. Không chỉ có thiên nhiên, cuộc sống con người hiện lên bình dị, ấm no: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ” – âm thanh náo nhiệt, gần gũi của cuộc sống lao động; “Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương” – âm thanh mùa hè vang vọng trong buổi chiều tà. Hai câu kết thể hiện rõ lý tưởng của Nguyễn Trãi: mong muốn có tiếng đàn “Ngu cầm” biểu trưng cho vương đạo, trị bình, mang đến cảnh “Dân giàu đủ khắp đòi phương”. Qua đó, ta cảm nhận được một tâm hồn yêu thiên nhiên, gắn bó với đời sống nhân dân, đồng thời là một bậc trí sĩ mang tấm lòng vì dân, vì nước. Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà thơ mà còn là người mang khát vọng xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị.
Câu 1:Phương thức biểu đạt chính: Tự sự.
câu 2:Tình huống truyện: Bào – một đứa trẻ ở đợ – bị ép bắt một con chim quý để làm vừa lòng cậu chủ nhỏ. Trong lúc cố gắng bắt chim, Bào bị ngã, chấn thương nặng, còn con chim thì chết. Mẹ con nhà chủ thì chỉ tiếc con chim, không quan tâm đến Bào.
câu 3:Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Tác dụng: Ngôi kể thứ ba giúp người kể có cái nhìn bao quát toàn bộ sự việc, khách quan, linh hoạt khi miêu tả diễn biến tâm lý của nhân vật, từ đó làm nổi bật bi kịch của nhân vật Bào cũng như phơi bày sự vô tâm, tàn nhẫn của mẹ con nhà chủ.
Câu 4:Chi tiết “Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.” thể hiện sự tuyệt vọng của Bào trong khoảnh khắc cận kề cái chết. Hành động “với tới, với mãi” cho thấy khát vọng được cứu giúp, được quan tâm, che chở. Nhưng cuối cùng, “chẳng với được ai” – đó là nỗi cô đơn, sự bất lực, thân phận bị bỏ rơi và không được coi là một con người của một đứa trẻ nghèo khổ.
câu 5:Nhận xét về nhân vật Bào:
Bào là một cậu bé ngoan ngoãn, chịu thương chịu khó, đầy trách nhiệm, luôn cố gắng làm hài lòng người khác dù bản thân bị đối xử tàn nhẫn. Em giàu lòng tự trọng và có nội tâm sâu sắc.
Thông điệp của tác giả: Qua nhân vật Bào, tác giả thể hiện sự cảm thông sâu sắc với số phận bất hạnh của những đứa trẻ nghèo, đồng thời lên án sự vô cảm, độc ác của những kẻ giàu có, có địa vị trong xã hội. Tác phẩm là lời kêu gọi nhân đạo, cần trân trọng và bảo vệ những mảnh đời yếu thế.