Đặng Thị Sầu
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Đoạn thơ trên là một tiếng lòng tha thiết, khẳng định Đoạn thơ trên là một tiếng lòng tha thiết, khẳng định sự gắn bó máu thịt, không thể tách rời giữa con người Việt Nam và biển cả quê hương. Ngay từ những dòng đầu, tác giả đã sử dụng hình ảnh nhân hóa đầy xúc động: "Mẹ Việt Nam quặn mình sinh ta ra từ biển", gợi nhắc về nguồn gốc lịch sử và địa lý thiêng liêng của dân tộc. Biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn hiện lên như một người mẹ hiền "dịu dàng vỗ về", là chiếc nôi bao dung nuôi dưỡng tâm hồn ta qua bao thế hệ. Hình ảnh "hạt muối mặn đỏ au" là một ẩn dụ nghệ thuật độc đáo, kết tinh từ sự nhọc nhằn và tình yêu nồng cháy, sắt son dành cho đất Việt. Đặc biệt, lời khẳng định "Biển là ta, biển là Tổ quốc" đã nâng tầm quan hệ giữa cá nhân và biển đảo lên thành sự đồng nhất về số phận và linh hồn. Mỗi giọt biển được ví như một "tế bào", cho thấy biển đã thấm sâu vào huyết quản, là một phần cơ thể sống của đất nước linh thiêng. Qua ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu suy tư, Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ khơi gợi niềm tự hào dân tộc mà còn nhắc nhở mỗi chúng ta về trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.sự gắn bó máu thịt, không thể tách rời giữa con người Việt Nam và biển cả quê hương. Ngay từ những dòng đầu, tác giả đã sử dụng hình ảnh nhân hóa đầy xúc động: "Mẹ Việt Nam quặn mình sinh ta ra từ biển", gợi nhắc về nguồn gốc lịch sử và địa lý thiêng liêng của dân tộc. Biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn hiện lên như một người mẹ hiền "dịu dàng vỗ về", là chiếc nôi bao dung nuôi dưỡng tâm hồn ta qua bao thế hệ. Hình ảnh "hạt muối mặn đỏ au" là một ẩn dụ nghệ thuật độc đáo, kết tinh từ sự nhọc nhằn và tình yêu nồng cháy, sắt son dành cho đất Việt. Đặc biệt, lời khẳng định "Biển là ta, biển là Tổ quốc" đã nâng tầm quan hệ giữa cá nhân và biển đảo lên thành sự đồng nhất về số phận và linh hồn. Mỗi giọt biển được ví như một "tế bào", cho thấy biển đã thấm sâu vào huyết quản, là một phần cơ thể sống của đất nước linh thiêng. Qua ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu suy tư, Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ khơi gợi niềm tự hào dân tộc mà còn nhắc nhở mỗi chúng ta về trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Câu 1 :
Dấu hiệu nhận biết thể thơ trên là :số tiếng ,số câu không bằng nhau.
Bài thơ trên dc viết theo thể thơ tự do
Câu 2
Theo tác giả, điều sẽ xảy ra khi triệu Người dân đất việt “xiết tay nhau” là :
- hoá biển sóng hoà bình
- đem ánh bình minh
- đem sự thật đến đập tan lòng tham , bóng tối.
Câu 3 :
- biện pháp tu từ nhân hoá được sử dụng trong bài thơ là:
+ bóng tối và lòng tham thộc bão giông.
+ biển rùng mình, máu của biển
+ tiếng thét trào lên .
- tác dụng :
+ biện pháp tu từ nhân hoá giúp cho câu thơ tăng sức gợi hình ,gợi cảm tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn cho lời thơ .
+ khẳng định biển như có hồn , đang phải gánh chịu những tổn thương và nỗi đau dữ dội ,biển bị tổn thương hay chính là nỗi đau của con người .
+ tác giả hiểu rõ sự đau đớn giận dữ của con người , lên án mạnh mẽ các thế lực tàn phá sự sống và những giá trị nhân văn , ngợi suy ngẫm về bài học đạo đức và ý thức bảo vệ mỗi trường sống .
Câu 4
Cảm xúc của nhân vật trữ tình với biển trong những dòng thơ là :
- sự gắn bó hoà nhập giữa cái tôi cá nhân và biển: biển là ta
- niềm tự hào và ý thức về tổ quốc: biển là tổ quốc
- sự trân trọng và ý thức trách nhiệm: Mỗi giọt biển là tế bảo của đất nước
> nhân vật trữ tình bộc lộ sự trân trọng gìn giữ và thái độ không cho pháp bất kỳ tổn thưởng nào đối với biển - cũng chính là đối với tổ quốc.
Câu 5
Sự tương đồng ý nghĩa của 2 đoạn trích là :
- đều nhìn nhận đất nước không phải là khái niệm trừu tượng , xa vời mà hiện hữu trong mỗi người dân .
- Nhấn mạnh vai trò , trách nhiệm của con người , đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay ,đối với đất nước dân tộc .
- khẳng định sức mạnh bền vững của đất nước được tạo nên từ sự đoàn kết, kế thừa phát triển của thế hệ mai sai.
Hình tượng “nàng Vọng Phu” trong bài thơ gợi lên trong lòng người đọc nhiều xúc động sâu sắc về vẻ đẹp thủy chung và nỗi đau thầm lặng của người phụ nữ. Nàng hiện lên với dáng đứng bồng con nơi sườn núi, ánh mắt dõi về phương xa như vẫn chờ đợi bóng hình người chồng đã ra đi không hẹn ngày trở lại. Dáng đứng ấy trải qua bao mưa nắng của thời gian mà vẫn không đổi, gợi sự cô đơn, lẻ loi nhưng cũng toát lên sự kiên định, bền bỉ của niềm tin yêu. Chi tiết hóa đá mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: đó không chỉ là truyền thuyết dân gian mà còn là sự hóa thân của nỗi đợi chờ đến tận cùng, của tình nghĩa vợ chồng son sắt không gì lay chuyển được. Qua hình tượng này, ta cảm nhận rõ vẻ đẹp cao quý của người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh, nặng tình nặng nghĩa và luôn hướng về mái ấm gia đình. Đồng thời, hình ảnh nàng Vọng Phu cũng gợi nhắc những chia ly nghiệt ngã do chiến tranh gây nên, khiến hạnh phúc lứa đôi dang dở. Bằng giọng thơ tha thiết, nhà thơ đã bày tỏ niềm xót thương và sự trân trọng sâu sắc trước phẩm chất bền bỉ, thủy chung ấy.
Trong bài thơ chân quê của Nguyễn Bính nhân vật “em” hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp mộc mạc , truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, đồng thời phản chiếu xao động trước làn sóng đô thị hóa . Sự thay đổi của “em” từ “yếm lụa sồi” “áo tứ thân khăn mỏ quạ” “sang khăn nhung” “quần lĩnh” “áo Cài khuy bấm”, sau chuyến đi tỉnh về thể hiện sự hấp dẫn của thời trang hiện đại . Tuy nhiên, sự thay đổi này mang lại nỗi khổ cho chàng trai , làm phai nhạt “hương đồng gió nội” . Qua cái nhìn của người yêu “em”vừa mang nét đáng yêu ,duyên dáng của sự chân quê , vừa cho thấy sự mong manh trước những cám dỗ mới . Lời van xin hãy giữ nguyên sự quê mùa của chàng trai không chỉ là mong muốn níu giữ vẻ đẹp truyền thống mà “em”đại diện. NHân vật “em” là trung tâm của sự đối lập giữ chân quê và thị thành nhắc nhở về việc giữ gìn bản sắc, tâm hồn mộc mạc trong bối cảnh văn hóa có sự biến đổi .