Trần Thị Tâm
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Bài thơ sử dụng thể thơ 8 chữ
Câu 2
-Nói lên sự u ám buồn bã vắng vẻ vào những ngày mưa nơi langf quê
Câu 3
-BPTT: nhân hoá “ chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa”
-Tác dụng:
+làm tăng sức gợi hình gợi cảm làm cho câu thơ trở nên sinh động
+ nhấm mạnh sự vắng vẻ và buon bã vào ngày trời mưa
Câu 4
Câu 1
Bài thơ “Trưa hè” của Anh Thơ là một bức tranh làng quê yên bình, chân thực và đầy tinh tế, gợi trong em những cảm xúc sâu lắng về vẻ đẹp mộc mạc của quê hương. Chỉ qua vài nét vẽ, tác giả đã tái hiện trọn vẹn cái nóng oi ả, ngưng đọng của không gian buổi trưa qua những hình ảnh đặc trưng: “con gà mái chùng chân đứng bóng”, “mấy tàu cau khô héo” hay “lu nước đầy phản chiếu mặt trời”. Cảm nhận của em khi đọc bài thơ là sự mệt mỏi, uể oải nhưng cũng rất yên bình, nhẹ nhàng. Dù miêu tả cái oi bức, Anh Thơ không hề tạo cảm giác khó chịu, mà ngược lại, sự tinh tế trong việc miêu tả cảnh vật gợi lên tình yêu quê hương thiết tha. Nhịp điệu thơ chậm rãi, nhẹ nhàng khiến không gian như ngưng lại. Bức tranh “Trưa hè” của Anh Thơ không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh, mà còn đánh thức trong em những kỷ niệm, cảm giác thân quen về một miền quê yên tĩnh. Đoạn thơ là một nốt lặng đáng quý, giúp ta thêm trân trọng những nét đẹp bình dị, mộc mạc trong cuộc sống thường nhật. Tóm lại, bài thơ để lại dấu ấn sâu sắc về một tâm hồn tinh tế, yêu thiên nhiên của thi sĩ.Câu 2
Để đứng vững và phát triển xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước, bên cạnh việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mỗi một quốc gia đều phải coi trọng việc gìn giữ bản sắc văn hóa. Vai trò, ý nghĩa to lớn của bản sắc văn hóa đối với sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của mỗi một dân tộc đã đặt ra vấn đề về vai trò của giới trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước đối với việc gìn giữ bản sắc văn hóa.
Như chúng ta đã biết, bản sắc văn hóa là điều cốt lõi mang tính đặc trưng, màu sắc riêng của mỗi một quốc gia, dân tộc; được hình thành và được vun đắp song song với quá trình dựng nước và giữ nước theo cả chiều đồng đại và lịch đại. Đó có thể là những giá trị về vật chất, cũng có thể là những giá trị văn hóa về tinh thần như phong tục tập quán, truyền thống văn hóa,.... Đối với dân tộc Việt Nam, những giá trị đó luôn bền vững, trường tồn theo thời gian như nền văn minh lúa nước, trống đồng Đông Sơn, tinh thần yêu nước mạnh mẽ, bền bỉ như sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc, tinh thần "tương thân tương ái" giàu giá trị nhân văn, hay truyền thống đạo lí "uống nước nhớ nguồn", "ân nghĩa thủy chung",....
Bản sắc văn hóa có ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với mỗi một quốc gia, dân tộc. Trước hết, bản sắc chính là cái gốc, cái hồn cốt lõi khẳng định sự tồn tại của mỗi một quốc gia, dân tộc. Điều này đã được Nguyễn Trãi - tác giả của áng thiên cổ hùng văn "Bình Ngô đại cáo" sớm khẳng định trong giai đoạn lịch sử trung đại. Trong tác phẩm của mình, để nêu ra một khái niệm hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc, Nguyễn Trãi đã nêu ra năm yếu tố, trong đó có hai yếu tố về nền văn hiến và phong tục tập quán, thể hiện rõ sự ý thức sâu sắc về vai trò của bản sắc văn hóa. Không chỉ dừng lại ở đó, bản sắc còn là cái nôi nuôi dưỡng ý thức về quyền độc lập và ý thức gìn giữ non sông, đất nước đối với mỗi một con người. Trong vô vàn những quốc gia tồn tại bình đẳng với bức tranh đa dạng và muôn màu sắc, bản sắc chính là một trong những yếu tố làm nên đặc trưng riêng, không thể hòa lẫn, hợp nhất giữa các đất nước.
Trong bối cảnh hòa nhập vào nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò vị trí của bản sắc văn hóa dân tộc càng được khẳng định hơn nữa và gắn bó mật thiết với trách nhiệm của thế hệ trẻ. Là những chủ nhân tương lai của đất nước, thế hệ thanh thiếu niên học sinh Việt Nam đã và đang phát huy bản sắc dân tộc bằng những việc làm tích cực. Mặc dù có sự du nhập và tác động từ văn hóa nước ngoài nhưng không ít bạn trẻ vẫn tìm về với những giá trị truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc như những trò chơi dân gian, những loại hình văn hóa dân gian như ca trù, nhã nhạc cung đình,..., đặc biệt là không ngần ngại quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra thế giới. Trong phần thi về Trang phục dân tộc, Hoa hậu H'Hen Niê đã tỏa sáng với bộ quốc phục được lấy cảm hứng từ những chiếc bánh mì, mang theo niềm tự hào về thành tựu nông nghiệp của nước ta trên đấu trường nhan sắc quốc tế.
Câu 1
Thể thơ 6/8
Câu 2
PTBĐ chính:Miêu tả
Câu 3
BPTT: điệp ngữ
Tác dụng: muoo nói lên cái thương nhớ mà người con phải đi xa nhà nhưng không bao giờ quên , muốn nhắc nhở chúng ta hãi luôn biết chân trọng những cái gì mình đang có
Câu 4
Già lòng yêu nước cà vẻ đẹp mộc mạc cua con người dân quê,tinh thần đoàn kết của dân tộc sức manh của dân tộc Việt Nam
Câu 5
Bài thơ muốn nói lên su hi sinh và lịch sử hao hùng của các anh hùng Việt Nam
Câu1.
- thể loại truyện trinh thám
Câu 2
Ngôi kể thứ ba
Câu 3
Câu ghép đẳng lập, quan hệ liệt kê, bổ sung.
Câu ghép "Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà, và ở đó, tôi thấy rõ những vệt bánh xe, loại xe nhỏ hai chỗ chở thuê, và qua một vài câu hỏi, tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước" là câu ghép đẳng lập. Các vế câu được nối với nhau bằng quan hệ liệt kê, bổ sung ý nghĩa cho nhau để diễn tả quá trình quan sát và suy luận của người nói.
Câu 4
Vì thủ phạm để lại rất nhiều manh mối nhưng lại không ăn khớp với nhau khiến việc su luan ngày càng khó khăn
Câu 5
Nv có cách lập luận nhạy bén và thông minh trong việc suy luận va tìm ra người phạm tội
Câu 1
Để phân tích nhân vật Lê Tương Dực, người giải cần có đoạn văn bản cụ thể được nhắc đến trong phần "Đọc hiểu" của đề bài. Nhân vật này xuất hiện trong lịch sử Việt Nam với nhiều ý kiến trái chiều, nhưng việc phân tích trong ngữ cảnh bài kiểm tra này phải dựa trên các chi tiết, sự kiện, lời nói hoặc hành động được mô tả trong đoạn trích đó.
Câu 2
Bệnh vô cảm là một trạng thái tâm lý tiêu cực, biểu hiện qua sự thờ ơ, lãnh đạm, thiếu quan tâm hoặc không có cảm xúc trước các sự vật, hiện tượng, hay đau khổ của người khác. Căn bệnh này đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong xã hội hiện đại, đặc biệt là ở giới trẻ, gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng.
Biểu hiện
Thờ ơ trước khó khăn của người khác: Nhìn thấy người bị nạn, bị móc túi nhưng dửng dưng, không can ngăn hay giúp đỡ.
Thiếu sự đồng cảm: Không có cảm xúc xót thương, buồn bã trước đau thương, mất mát của người xung quanh.
Đắm chìm trong thế giới ảo: Nhiều bạn trẻ dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội, game online mà quên mất những giá trị thực của cuộc sống và các mối quan hệ xã hội.
Thiếu trách nhiệm với bản thân và cộng đồng: Sống chỉ biết có bản thân mình, không có ước mơ, hoài bão, và thờ ơ với tương lai của chính mình.
Nguyên nhân
Tính vị kỉ: Chỉ biết sống cho bản thân mà không nghĩ đến người khác.
Áp lực cuộc sống và công nghệ: Nhịp sống quá gấp gáp, con người bị cuốn vào vòng xoáy của đồng tiền, công việc, cùng với sự phát triển của công nghệ khiến con người sống khép kín hơn.
Giáo dục và môi trường xã hội: Thiếu sự giáo dục về lòng trắc ẩn, sự sẻ chia từ gia đình và nhà trường, cùng với sự lây lan của lối sống tiêu cực trong xã hội.
Hậu quả
Cá nhân: Tâm hồn trở nên chai sạn, mất đi những phẩm chất tốt đẹp của con người, dễ dẫn đến các rối loạn tâm thần như stress, lo âu.
Xã hội: Làm suy thoái đạo đức, làm mất đi hơi ấm của tình thương, sự đoàn kết, tạo điều kiện cho cái ác, cái xấu lên ngôi.
Giải pháp
Nâng cao nhận thức: Mỗi người cần nhận thức rõ tác hại của bệnh vô cảm để tự thay đổi bản thân.
Nuôi dưỡng lòng trắc ẩn: Học cách quan tâm, lắng nghe và chia sẻ với mọi người xung quanh.
Tham gia hoạt động cộng đồng: Tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện, phong trào xã hội để gắn kết với cộng đồng.
Sự chung tay của gia đình và xã hội: Gia đình, nhà trường và toàn xã hội cần chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, biết yêu thương, sẻ chia.
Câu 1
Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc vua Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài, dẫn đến cuộc nổi loạn của Trịnh Duy Sản, kết cục là cả ba người và Cửu Trùng Đài đều bị hủy hoại.
Câu 2
Không có lời độc thoại nào của nhân vật được dẫn ra trực tiếp trong đoạn trích trên.
Đoạn trích chỉ là lời kể, tóm tắt lại các sự kiện và hành động của nhân vật, không có đoạn hội thoại hay độc thoại trực tiếp nào được trích dẫn bằng dấu ngoặc kép hoặc định dạng tương tự.
Câu 3
Không có chỉ dẫn sân khấu nào của vua Lê Tương Dực được nhắc đến trong đoạn trích.
Đoạn trích là một đoạn văn tóm tắt cốt truyện, không phải là một văn bản kịch (vở tuồng) có chứa các chỉ dẫn sân khấu (như hành động, cử chỉ, bối cảnh) dành cho nhân vật vua Lê Tương Dực hoặc bất kỳ nhân vật nào khác.
Câu 4
Biện pháp tu từ ẩn dụ (tiếng oán thán nổi lên đầy trời)
Đoạn văn sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ trong cụm từ "tiếng oán thán nổi lên đầy trời". Tác dụng của biện pháp này là:
Làm cho sự việc đau khổ, tiếng than khóc của dân chúng trở nên cụ thể, hình ảnh và sống động hơn.
Nhấn mạnh mức độ, quy mô rộng lớn của sự đau khổ, sự bất bình và nỗi oán hận của người dân đối với tình trạng loạn lạc, giặc giã khắp nơi.
Gợi cảm giác về sự tột cùng của bi kịch, làm lay động mạnh mẽ cảm xúc của người đọc.
Câu 5
Bối cảnh xã hội đầy loạn lạc, bất ổn, và bi kịch
Từ đoạn trích, có thể thấy bối cảnh xã hội lúc bấy giờ:
Loạn lạc và chiến tranh: "Giặc giã nổi lên khắp nơi", "dấy binh làm loạn".
Nhân dân lầm than, cơ cực: "hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc", "Dân gian không được an cư lạc nghiệp", "cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết".
Chính quyền suy yếu, bất lực: Quan lại triều đình bị giết, không kiểm soát được tình hình.
Kinh tế đình trệ: "ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng".
Sự phẫn nộ tột cùng: "Tiếng oán thán nổi lên đầy trời" thể hiện sự bất mãn và căm phẫn của người dân.
Câu 1
Đoạn văn phân tích nhân vật Đạm Tiên trong đoạn trích (thường là "Truyện Kiều" của Nguyễn Du) cần tập trung vào các khía cạnh:
Số phận bi kịch: Đạm Tiên là một ca kỹ tài sắc nhưng bạc mệnh, chết trẻ và không có người thờ cúng, tượng trưng cho số phận chung của những người phụ nữ tài hoa mà bất hạnh trong xã hội phong kiến.
Sự đồng cảm của Thúy Kiều: Qua lời bình của Kiều khi viếng mộ, nhân vật Đạm Tiên được khắc họa không chỉ qua số phận của chính mình mà còn qua lăng kính của Kiều, thể hiện sự xót xa, đồng cảm sâu sắc với "phận đàn bà".
Ý nghĩa tượng trưng: Đạm Tiên là hình ảnh báo trước cho số phận đầy sóng gió, chìm nổi của chính Thúy Kiều, làm nổi bật chủ đề "tài mệnh tương đố" (tài năng và số phận ghét nhau) của tác phẩm.
Câu 2
Để sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả, cần thực hiện các biện pháp sau:
Giới hạn thời gian sử dụng: Đặt ra giới hạn thời gian cụ thể mỗi ngày và tuân thủ nghiêm ngặt để tránh sao nhãng việc học tập và các trách nhiệm khác.
Xác định mục đích: Sử dụng mạng xã hội cho các mục đích tích cực như học hỏi, kết nối với bạn bè, hoặc tìm kiếm thông tin hữu ích, thay vì chỉ lướt web vô bổ.
Bảo vệ thông tin cá nhân: Cẩn trọng với những thông tin chia sẻ công khai và cài đặt quyền riêng tư phù hợp để bảo vệ bản thân khỏi những rủi ro trực tuyến.
Tương tác tích cực: Tránh tham gia vào các cuộc tranh cãi, bắt nạt trực tuyến, và tập trung vào việc xây dựng các mối quan hệ lành mạnh, chia sẻ nội dung mang tính xây dựng.
Câu 1
Thơ lục bát
Câu 2
Lời dẫn trực tiếp
Câu 3
thống từ láy góp phần quan trọng trong việc miêu tả, thể hiện cảm xúc.
Các từ láy như "thanh minh", "vắng tanh" giúp gợi tả không gian, thời gian và sự vắng vẻ, hoang vắng của cảnh vật.
Qua đó, làm nổi bật tâm trạng và cảm xúc của nhân vật, tăng tính gợi hình, gợi cảm cho văn bản.
Câu 4
Tâm trạng thương cảm, xót xa sâu sắc.
Thúy Kiều cảm thương cho số phận bạc mệnh, không người hương khói của Đạm Tiên.
Điều này cho thấy Thúy Kiều là người con gái có tấm lòng nhân hậu, vị tha, giàu lòng trắc ẩn và biết đồng cảm với nỗi đau của người khác.
Câu 5
Bài học về sự đồng cảm, lòng nhân ái và trân trọng cuộc sống hiện tại.
Nội dung văn bản giúp nhận ra rằng cuộc sống vô thường, cần biết yêu thương, giúp đỡ những người bất hạnh.
Cần trân trọng những gì đang có, sống có ý nghĩa và đối xử tốt với mọi người xung
Câu 1
Nhân vật Dung trong đoạn trích là hình ảnh tiêu biểu cho số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ, phải chịu đựng sự bất hạnh, bị áp bức, bóc lột và tuyệt vọng trong cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc.
Xuất thân và hoàn cảnh: Dung sinh ra trong một gia đình sa sút về kinh tế. Khi ra đời, nàng không được cha mẹ hoan nghênh, lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt của gia đình. Cuối cùng, nàng bị mẹ gả bán cho nhà giàu để lấy tiền bạc.
Cuộc sống hôn nhân khắc nghiệt:
Dung từ bé không phải làm việc nặng nhọc, nhưng về nhà chồng phải làm lụng đầu tắt mặt tối, từ tát nước, nhổ cỏ đến các công việc khác.
Nàng không có người an ủi, chồng thì vô tâm, suốt ngày thả diều, không dám cãi lời mẹ.
Hai em chồng ghê gớm, thường xuyên tìm cách làm cho Dung bị mẹ chồng mắng thêm.
Mẹ chồng cay nghiệt, đay nghiến mỗi khi thấy Dung cực khổ hay khóc lóc, nhắc đến số tiền "mấy trăm bạc" dẫn cưới như một sự mua bán.
Tính cách và số phận: Nhân vật Dung thể hiện sự cam chịu, nhẫn nhục trước hoàn cảnh khắc nghiệt. Đoạn trích khắc họa một số phận đầy bi kịch, bị đối xử như một món hàng, không có tiếng nói hay hạnh phúc riêng. Cái chết của Dung (được gợi ý trong nhan đề tác phẩm "Hai lần chết" của Thạch Lam, mà đoạn trích này là một phần) là kết quả tất yếu của sự dồn nén, khổ cực và sự bế tắc, tuyệt vọng.
Câu 2
Thế giới mới đón nhận tất cả chúng ta, trao cho ta cơ hội thể hiện tài năng và sự sáng tạo bất kể ta là ai. Phụ nữ có thể đứng trên những công trình, làm người lãnh đạo tài ba hay trở thành người nội trợ chăm sóc gia đình. Miễn là họ chọn và hạnh phúc. Căn bếp có thể trở thành nơi yêu thích của những người đàn ông. Họ thích màu hồng hay ưa mặc vest, tất cả đều không phải vấn đề. Miễn là họ chọn và hạnh phúc. Nhờ có đấu tranh cho bình đẳng giới, con người yêu thương và thấu hiểu nhau hơn. Đây chính là nền tảng cho xã hội văn minh và bền vững.
Tiềm năng của con người là vô hạn và giới tính hay xu hướng tính dục không phải là yếu tố quyết định ta “nên” hay “phải” làm gì. Điều này đã được thực tế chứng minh. Ngành công nghiệp thời trang thế giới được tạo dựng bởi bàn tay của nhiều người đàn ông như Christian Dior, Ralph Lauren, Calvin Klein. Ai nói máy khâu chỉ dành cho phụ nữ? Và tương tự, có những người phụ nữ đã làm nên tên tuổi trên đấu trường chính trị hay kinh tế. Với trí thông minh, sự sắc sảo, bà Nguyễn Thị Bình đã thành công trên bàn đàm phán ký kết Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.
Để xây dựng một xã hội bình đẳng giới, ta cần sự chung tay góp sức của cả cộng đồng. Sự thay đổi nhận thức của từng cá nhân sẽ dẫn đến sự thay đổi của toàn xã hội. Trước hết, chúng ta nên tự hào và yêu thương chính bản thân mình, trân trọng sự khác biệt giữa ta và những người xung quanh. Tiếp đó, hãy dành sự tôn trọng ấy cho người khác, công nhận tài năng và giá trị của họ.
“Không quan trọng rằng tóc tôi dài bao nhiêu hay màu da của tôi là gì hay việc tôi là đàn ông hay phụ nữ” – John Lennon. Một thế giới hạnh phúc là thế giới mà chúng ta sống với nhau bằng tình yêu thương và tôn trọng, không phải bằng khuôn khổ hay định kiến. Đấu tranh cho bình đẳng, bước qua định kiến, con người sẽ gần nhau hơn.
Câu 1
Luận đề của văn bản là: Truyện không chỉ lên án thói ghen tuông hồ đồ của Trương Sinh, mà quan trọng hơn, buộc người đọc phải suy nghĩ sâu sắc hơn về bài học nhân sinh về hậu quả khôn lường của những sai lầm do chính con người gây ra, không phải lúc nào cũng khắc phục được.
Câu 2
Theo người viết, truyện hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo: Người bị oan có thể được giải oan, nhưng hậu quả của sai lầm thì không phải bao giờ cũng khắc phục được.
Câu 3
Mục đích của việc nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu là để làm nổi bật bi kịch của Vũ Nương và xoáy sâu vào lòng người đọc nỗi xót xa về cảnh đứa trẻ mất mẹ do thói ghen tuông của người cha.
Câu 4
Chi tiết khách quan là việc Vũ Nương không trở về với chồng con. Chi tiết chủ quan là nhận xét của người viết rằng điều đó buộc người đọc phải suy nghĩ sâu hơn về bài học của truyện. Mối quan hệ giữa hai cách trình bày này là chi tiết khách quan (sự kiện trong truyện) là cơ sở để đưa ra nhận định, đánh giá chủ quan (bài học, ý nghĩa).
Câu 5
Từ văn bản, người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì nó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bi kịch gia đình, gây ra cái chết oan ức của Vũ Nương và khiến đứa con phải sống cảnh mồ côi suốt đời.