Mai Quỳnh Trang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Mai Quỳnh Trang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự

Câu 2:

Văn bản sự dụng ngôi kể thứ ba.

Câu 3:

Nội dung văn bản: Thông qua chú chó Hàn Lư ca ngợi những người sống có lòng trung thành, trung nghĩa cũng như phê phán, chê bai những kẻ sống không có lòng trung nghĩa. 

Câu 4:

Yếu tố kì ảo: Hàn Lư là chó nhưng lại biết nói tiếng người.

Tác dụng: khiến việc chê trách, phê bình phú ông cũng như những kẻ sống không có lòng trung nghĩa trở nên sinh động tăng thêm sức châm biếm, mỉa mai.

Câu 5:

Qua câu chuyện, em rút ra bài học rằng trong cuộc sống cần phải có lòng tiết nghĩa, sống một lòng một dạ, không chỉ vì lợi ích mà trở mặt phản bội lại người từng giúp đỡ, đối tốt với ta.

Câu 1:

Thể loại văn bản là truyện truyền kì

Câu 2:

Khi trở về quê cũ, Từ Thức đã rơi vào tình cảnh quê cũ, người thân cõi trần chẳng còn, xe mây cũng đã biến thành chim loan, chẳng thể quay về cõi tiên được nữa. Rơi vào tình huống không có nơi nào để trở về.    

Câu 3:

-không gian: không gian thực (cõi trần) và không gian kì ảo (cõi tiên)

-thời gian: có sự khác nhau rõ rệt giữa thực và ảo: 1 năm ở cõi tiên bằng gần trăm năm ở cõi trần.

- không gian và thời gian có yếu tố kì ảo rõ rệt -> là đặc điểm của truyện truyền kì.

Câu 4:

-yếu tố kì ảo: Một năm ở cõi tiên trôi qua bằng gần trăm năm ở trần gian. Khi Từ Thức trở về thì quê cũ đã không còn.

-tác dụng: cho thấy sự quý giá của thời gian, nhắc nhở ta phải biết chân quý thời gian, chân trọng những gì mình đang có vì những thứ đã trôi qua sẽ không bao giờ có thể trở lại.

Câu 5:

Hành động của Từ Thức  ở cuối văn bản thể hiện sự buông bỏ của ông với cả hai cõi trần và cõi tiên. Khi quê nhà và người thân không còn, cũng chẳng thể quay về cõi tiên, chỉ còn mình Từ Thức lạc lõng giữa cõi đời. Sự từ bỏ cả hai cõi gợi nên nỗi thương cảm và đau sót cho số phận cô đơn, lạc lõng chỉ vì một sai lầm của Từ Thức. Cũng nhắc nhở người đọc phải trân trọng những gì hiện tại mình đang có.                          


Câu 1:

Thể loại của văn bản là: Văn xuôi

Câu 2:

Chủ đề của văn bản: những mối tình đẹp nhưng dang dở vì bị ngăn cách bởi cha mẹ và hủ tục thách cưới trong xã hội phong kiến.

Câu 3:

-Trong văn bản, người cha ngăn cản mối hôn sự của con gái mình vì ông khinh thường chàng trai quá nghèo, không xứng đáng với gia thế của ông cũng như không xứng với con gái mình.

- Cách hành xử của người cha là sai khi ông không chỉ khinh thường chàng trai mà con mắng bà mối bằng lời lẽ không hay. Điều này cho thấy người cha trong văn bản là người rất bất lịch sự, ỷ mình giàu có mà khinh thường người kém cỏi hơn mình. Cũng chính hành động đó đã khiến ông hối hận.

Câu 4:

-Chi tiết kì ảo trong đoạn: bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng.

-Tác dụng của CTKA: +tác giả thể hiện nỗi đau khổ của cô gái trước mối tình dang dở. Từng giọt máu tươi tượng trưng cho sự đau đớn khi tình yêu bị ngăn cấm mà không thể giãi bày, cũng khiến người đọc liên tưởng đến hình ảnh trái tim cô gái đang tan vỡ, chảy máu.         

+Khiến truyện thêm phần ly kì, cuốn hút, và khiến truyện có cái kết dù không có hậu nhưng vẫn trọn vẹn.

Câu 5:

Văn bản cho người đọc thấy được bi kịch từ những mối tình dang dở do bị ngăn cấm thời phong kiến. Từ đó ta cũng thấy được sự trong sáng và đẹp đẽ từ những khao khát trong tình yêu. Đó là những khát vọng mãnh liệt, đẹp đẽ mà thời nay khó có thể có được. Nhưng cũng chính vì tình yêu và khát vọng càng to lớn, thì khi bị ngăn cấm cũng sẽ kiến bi kịch và đau khổ càng lớn hơn.