Hoàng Trà My
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Phở là một món ăn quen thuộc nhưng luôn để lại trong em nhiều cảm xúc đặc biệt. Mỗi bát phở không chỉ hấp dẫn bởi hương vị thơm ngon mà còn chứa đựng nét đẹp văn hóa của người Việt. Nước dùng trong veo, ngọt thanh; bánh phở mềm mại; thịt được thái vừa vặn, tất cả hòa quyện tạo nên một hương vị giản dị mà tinh tế. Khi thưởng thức phở, em cảm nhận được sự chăm chút, tỉ mỉ của người nấu và cả tình yêu dành cho món ăn truyền thống. Phở không chỉ là món ăn để no lòng mà còn gợi lên cảm giác ấm áp, thân thuộc, nhất là trong những buổi sáng se lạnh. Qua trang viết của Nguyễn Tuân, em càng thêm yêu và trân trọng món phở – một nét đẹp ẩm thực mang đậm tinh thần dân tộc Việt Nam.
Câu 2:
Trong cuộc đời mỗi người, có những sự việc tuy đã trôi qua nhưng vẫn in đậm trong tâm trí và không thể nào quên. Đối với em, sự việc khiến em nhớ mãi chính là lần đầu tiên em nhận được điểm kém và được mẹ nhẹ nhàng dạy bảo.
Hôm ấy, khi nhận bài kiểm tra với số điểm thấp, em vô cùng buồn bã và lo lắng. Em sợ bị mẹ trách mắng nên cứ im lặng suốt quãng đường về nhà. Thế nhưng, trái với suy nghĩ của em, mẹ không quát mắng mà chỉ nhẹ nhàng hỏi han. Mẹ ngồi xuống bên cạnh, phân tích cho em hiểu vì sao em học chưa tốt và động viên em cố gắng hơn ở những lần sau. Ánh mắt hiền từ và giọng nói ấm áp của mẹ khiến em vừa xấu hổ vừa xúc động.
Sự việc ấy đã giúp em hiểu rằng tình yêu thương không phải lúc nào cũng thể hiện bằng lời trách phạt mà đôi khi là sự cảm thông và tin tưởng. Đó là kỉ niệm em nhớ mãi và luôn nhắc nhở bản thân phải cố gắng học tập để không phụ lòng mẹ.
Câu 1:
Hình ảnh mầm non trong bài thơ Mầm non của Võ Quảng đã để lại trong em nhiều cảm xúc đẹp đẽ. Mầm non hiện lên nhỏ bé, xanh tươi nhưng lại ẩn chứa sức sống mạnh mẽ và bền bỉ. Dù phải đội đất vươn lên, chịu nhiều khó khăn, mầm non vẫn kiên cường đón ánh mặt trời, mở ra một sự sống mới. Hình ảnh ấy khiến em liên tưởng đến con người, đặc biệt là những em nhỏ đang từng ngày lớn lên trong sự chở che của gia đình và xã hội. Mầm non không chỉ là hình ảnh của thiên nhiên mà còn là biểu tượng của hi vọng, của tương lai tươi sáng. Đọc bài thơ, em cảm nhận được niềm tin yêu cuộc sống và sự trân trọng mà tác giả dành cho những điều giản dị nhưng đầy ý nghĩa. Hình ảnh mầm non vì thế trở nên gần gũi và đáng yêu trong lòng em.
Câu 2:
Trong cuộc sống, người em yêu quý và gắn bó nhất chính là mẹ – người luôn âm thầm hi sinh vì em từng ngày. Mẹ không chỉ sinh ra em mà còn dõi theo em trên mỗi chặng đường trưởng thành.
Mẹ em là người phụ nữ giản dị, hiền lành và giàu tình yêu thương. Mỗi buổi sáng, mẹ dậy sớm chuẩn bị bữa ăn, nhắc em học bài và đưa em đến trường. Khi em vui, mẹ mỉm cười hạnh phúc; khi em buồn, mẹ nhẹ nhàng an ủi. Có những lúc em mắc lỗi, mẹ không trách phạt nặng lời mà kiên nhẫn chỉ bảo, giúp em hiểu ra điều đúng sai.
Em nhớ nhất một kỉ niệm vào năm em bị ốm nặng. Đêm hôm ấy, mẹ thức trắng bên giường, liên tục lau mồ hôi và đút từng thìa thuốc cho em. Bàn tay mẹ gầy gò nhưng ấm áp vô cùng. Khi em tỉnh dậy, nhìn thấy mẹ mệt mỏi mà vẫn lo lắng cho em, em thấy thương mẹ nhiều hơn bao giờ hết.
Mẹ chính là chỗ dựa vững chắc và là người em yêu quý nhất. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập thật tốt để không phụ lòng yêu thương và hi sinh của mẹ.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh.
Câu 2:
Việc đặt tên quán phở bao gồm những quy luật sau:
− Dùng tên cúng cơm của người chủ hoặc tên con để đặt cho tên gánh, tên hiệu. Ví dụ: phở Phúc, phở Lộc, phở Thọ,...
− Lấy một đặc điểm tật nguyền trên cơ thể người bán phở để đặt cho tên gánh, tên hiệu. Ví dụ: phở Gù, phở Lắp, phở Sứt,...
Câu 3:
− Tác giả đã nói về phở trên những phương diện sau:
+ Thời điểm thích hợp để ăn phở: Phở ăn bất cứ vào giờ nào cũng đều thấy trôi cả. Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được.
+ Những quy luật trong việc đặt tên cho quán phở: Tên người bán phở thường chỉ dùng một tiếng,... người sành.
+ Sự mai một của tiếng rao bán phở trong đời sống hiện nay: Tại sao, bây giờ Hà Nội vẫn có phở, mà tiếng rao lại vắng hẳn đi?
− Cái nhìn của tác giả về phở: Cái nhìn trân trọng, yêu quý và cũng xen chút tiếc nuối vì trong đời sống hiện nay phở đã mất đi phần nào những yếu tố bình dị, đặc trưng của nó.
Câu 4:
− Đề tài: Phở.
− Chủ đề: Ca ngợi món phở − một món ăn truyền thống đặc sắc, tinh tế và gắn bó sâu sắc với đời sống của người Việt, đặc biệt là người Hà Nội.
Câu 5:
− Tình cảm của tác giả đối với phở:
+ Nguyễn Tuân thể hiện sự yêu mến, trân trọng những gì bình dị mà thân thuộc của món phở Hà Nội.
+ Tác giả cũng thể hiện sự tự hào, sự hoài niệm về món ăn thấm đượm tinh thần dân tộc này.
Câu 1:
– Đây là thể thơ năm chữ.
– Căn cứ xác định thể thơ: Số chữ trong mỗi dòng thơ, cụ thể là năm chữ trong mỗi dòng.
Câu2:
– Gieo vần chân.
– Cụ thể: "đỏ" gieo vần với "nhỏ".
Câu 3:
– Chủ đề: Ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, đặc biệt là sức sống mãnh liệt của mầm non nhỏ bé.
– Căn cứ xác định chủ đề:
+ Nhan đề: "Mầm non".
+ Từ ngữ, hình ảnh chủ đề: "mầm non nho nhỏ", "nằm nép lặng im", "bật chiếc vỏ rơi", "đứng dậy giữa trời",...
Câu 4:
– Nhan đề phù hợp với nội dung văn bản.
– Bài thơ xoay quanh hình ảnh mầm non – biểu tượng của sự sống, khởi đầu, niềm hi vọng.
=> Nhan đề khái quát được nội dung và cảm hứng chính của bài thơ.
– Ví dụ: Hình ảnh mầm non trong bài thơ rất phù hợp với nội dung của văn bản bởi đó là một mầm non nhỏ bé đang ẩn mình dưới cành bàng trong mùa đông lạnh giá rồi mạnh mẽ thức dậy, vươn mình khi xuân đến. Do đó, hình ảnh mầm non không chỉ miêu tả một hiện tượng tự nhiên mà nó còn là biểu tượng cho sự tái sinh của vạn vật khi xuân về, đồng thời nó còn gợi liên tưởng đến sức sống mãnh liệt, niềm tin và khát vọng vươn lên trong cuộc sống. Vì vậy, nhan đề của bài thơ vừa bao quát được nội dung của bài thơ, vừa thể hiện cảm hứng trân trọng, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống.
Câu 5 :
– Thông điệp: Con người cần có niềm tin, nghị lực và khát vọng vươn lên trong cuộc sống, dù trong hoàn cảnh khó khăn hay tăm tối vẫn ẩn chứa sức sống để đổi thay.
– Lí giải:
+ Vì cuộc sống luôn có thử thách và biến động, con người không thể tránh khỏi những lúc khó khăn, thất bại hay mất niềm tin.
+ Nếu thiếu nghị lực và khát vọng, con người dễ buông xuôi, đánh mất cơ hội để vươn lên và làm lại từ đầu.
+ Niềm tin và nghị lực giúp con người mạnh mẽ vượt qua nghịch cảnh, giống như mầm non vẫn ẩn mình trong mùa đông lạnh giá, chờ ngày bật dậy khi xuân đến.
“ Đối tượng của văn học vốn là thân phận con người, nên chỉ có kẻ nào đập và hiểu nó sẽ hóa thành không phải là một chuyên gia nghiên cứu văn học mà là một kẻ hiểu biết con người một cách sâu sắc ”. Quả thực, con người luôn là nơi bắt đầu cũng là nơi đi đến của văn học. Với mỗi thế giới khác nhau của mỗi tác phẩm, người đọc lại có một trải nghiệm riêng về con người. Và trong câu truyện “sự tích cúc trắng” được trích từ truyện cổ tích - sách ngựa gióng đã có những trang văn neo đậu mãi trong tâm hồn chúng ta về nhân vật “ người con ”, đây cũng là nhân vật mà em ấn tượng nhất trong tất cả các tác phẩm văn học.
Người ta có câu“đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ” ám chỉ rằng mẹ là người quan tâm và đối xử tốt nhất với chúng ta. Để nhận biết nhân vật“người con” trong tác phẩm hơn, ta đọc truyện và thấy người con là người có lòng nhân hậu, biết quan tâm mẹ. Người con rất ngoan , nghe lời mẹ, cố gắng học hành. Hai mẹ con tuy có cuộc sống nghèo khổ không ai muốn nhưng vẫn nương tựa vào nhau để bước tiếp. Rồi đến khi mẹ bệnh nặng, người con rất buồn nhưng vẫn luôn quyết tâm đi tìm thầy thuốc, cầu xin trời phù hộ cho mẹ khỏi bệnh. Từ lòng hiếu thảo đó cũng đã khiến đất trời hiểu thấu, làm cho đức phật từ bi cảm thương và giúp đỡ .
Không những thế, “người con” còn là một người kiên trì, nhẫn nại, rất thông minh. Em ấy thương mẹ nên đã nỗ lực vượt qua bao nhiêu thử thách để tìm người chữa bệnh cho mẹ. Khi được nhà sư tặng cho một cánh hoa có năm chiếc lá tương đương với , em đã rất vui nhưng lại trĩu lòng xuống vì biết rằng mẹ có thể sống bên mình năm năm nữa. Rồi bỗng em lại nghĩ ra một cách là sẽ từng lá một thật nhỏ đến khi không nếm được để mẹ ở bên em mãi. Nhờ sự thông minh đó, hai mẹ con đã sống bên nhau rất hạnh phúc.
Câu chuyện đã rất thành công về mặt nội dung, phần nghệ thuật cũng chính là một đóng góp to lớn trong đó. Tác giả đã tinh tế đặt nhân vật vào nhiều bối cảnh, tình huống cụ thể để bộc lộ phẩm chất, tính cách tốt của nhân vật tác giả cũng khắc họa nhân vật chủ yếu qua lời nói, hành động để làm nên lời kẻ hấp dẫn, cảm động, sử dụng yếu tố thần kỳ mô tả lại câu chuyện lành mạnh và chứa đầy ý nghĩa. Tác giả cũng đã làm tên nhan đề thêm cuốn hút và khiến câu chuyện có hình ảnh trong sáng, tươi đẹp.
Qua câu chuyện ngắn trên, tác giả đã gửi gắm cho ta rất nhiều bài học. Ta có thể thấy nhân vật“người con” có ý chí rất vững chắc tinh thần và tâm lý rất cao. Khi mẹ bị bệnh, em không hoảng mà vẫn bình tĩnh đi tìm thầy thuốc để cứu chữa còn nhỏ nhưng lại có cách xử lý rất chuẩn và đúng hiếu thảo, lòng quan tâm và lòng tốt bụng đã nêu lên cả con người của em ấy. Qua bao lo ngại, em ấy cũng đã để lại dấu ấn về tấm của em ấy cho mọi người. Chỉ với những hình ảnh tác giả mô tả cũng đã một vẻ đẹp sáng ngời và khí chất lành mạnh.
Nhân vật người con là lời răn dạy về lòng hiếu thảo, nhắc nhở con cháu luôn kính yêu, hiếu thảo với cha mẹ. Dù là câu chuyện cổ tích, nhưng hình tượng người con cho thấy sức mạnh tinh thần của con người có thể vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Hãy luôn quan tâm và biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ khi còn có thể làm điều đó.
Câu 1:
Thể loại: tùy bút
Câu 2 :
“Nghệ thuật” ăn quà của người Hà Nội thể hiện qua việc “ăn đúng cái giờ ấy và chọn người bán ấy”, tức là chọn thời điểm ăn và chọn người bán món quà đúng mới thể hiện mình là người sành ăn. Đó chính là điều làm nên “nghệ thuật” ăn quà của người Hà Nội.
Câu 3 :
Biện pháp tu từ: So sánh (“sáng như nước”, “ngọt như đường phèn”).
Tác dụng :
+) Làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt khiến câu văn thêm hay và sinh động hơn
+) Nhấn mạnh sự sắc bén, tinh tế của con dao và gợi liên tưởng đến chất lượng, sự tinh khiết, ngon lành của món ăn được chuẩn bị
+) Qua đó ta thấy được tác giả đã làm tăng tính thẩm mỹ và sự hấp dẫn của hành động cắt gọt.
Câu 4 :
Chủ đề của văn bản là Vẻ đẹp của văn hóa ẩm thực và lối sống thanh lịch, tinh tế của người Hà Nội qua một khoảnh khắc đời thường (cảnh mua và thưởng thức món quà).
Câu 5 :
Cái tôi trữ tình của tác giả Thạch Lam được thể hiện là một cái tôi nhạy cảm, tinh tế, giàu lòng trắc ẩn và yêu mến vẻ đẹp bình dị. Tác giả không chỉ miêu tả hành động mà còn cảm nhận được sự vất vả, nỗi niềm (cái phận) của người bán hàng (“cùng bạn làm ăn cả, một gánh nuôi chồng con”) qua cử chỉ chăm chút món ăn.
Câu 6 :
Tình yêu Hà Nội thể hiện qua cách thưởng thức quà ăn tinh tế nhắc nhở chúng ta về sự gắn bó sâu sắc với quê hương. Sự gắn bó không chỉ đến từ những điều lớn lao mà còn được nuôi dưỡng qua những chi tiết đời thường, thân thuộc nhất—như hương vị món ăn quen thuộc hay nét văn hóa ứng xử nhẹ nhàng. Chính những giá trị văn hóa, những thói quen, và kỷ niệm bình dị ấy đã tạo nên sợi dây vô hình nhưng bền chặt, níu giữ tâm hồn mỗi người với mảnh đất mình sinh ra. Để trân trọng quê hương, ta cần học cách nhìn nhận và yêu quý những nét đẹp nhỏ bé, được gìn giữ qua bao thế hệ.