Dương Tuấn Khải
Giới thiệu về bản thân
a,
Bảo tồn đa dạng sinh học là cấp thiết vì hệ sinh thái đang bị suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống và sự phát triển bền vững của con người. Suy giảm tài nguyên: Các hệ sinh thái rừng, biển và đất ngập nước đang bị thu hẹp diện tích và chất lượng do khai thác quá mức và ô nhiễm. Nguy cơ tuyệt chủng: Nhiều loài sinh vật quý hiếm, hoang dã có nguy cơ biến mất vĩnh viễn, làm mất cân bằng sinh thái. Ảnh hưởng con người: Mất đa dạng sinh học ảnh hưởng đến an ninh lương thực, nguồn nước và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu.
b.
Cần thực hiện đồng bộ các biện pháp về quản lý, kỹ thuật và nâng cao nhận thức để bảo vệ đa dạng sinh học. Quản lý và quy hoạch: Mở rộng diện tích và tăng cường quản lý các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. Kỹ thuật và bảo tồn: Bảo tồn các loài hoang dã và phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái. Tuyên truyền và pháp luật: Nâng cao nhận thức cộng đồng và xử lý nghiêm các hành vi khai thác trái phép.
Giá trị của đất phù sa trong sản xuất -nông nghiệp:
+ phù sa là nhóm đất dùng để sản xuất lương thực,cây công nghiệp và cây ăn quả
-thủy sản:đất phù sa ở vùng cửa sông ven biển nhiều lợi thế để phát triển ngành thủy sản.Ở rừng ngập mặn ven biển,các bãi triều ngập nước và cửa sông lớn lên thuận lợi cho nuôi trồng nhiều loại thủu sản nước lợ và nước mặn khác nhau nhất là cá và tôm
b) thực trạng: nhiều diện tích đất của Trung Du và miền núi bị rửa trôi,sói mòn,bạc màu khô càn nghèo dinh dưỡng,nguy cơ hoang mạc hóa có thể xảy ra ở khu vực Duyên Hải-Nam Trung Bộ
Nguyên nhân:đất ở nhiều vùng cửa sông,ven biển suy thoái do nhiễm mặn,ngập úng và có xu hướng tăng lên
Bài thơ Mẹ của Viễn Phương khiến em vô cùng xúc động bởi tình mẫu tử thiêng liêng và sâu nặng. Hình ảnh người mẹ nghèo được ví như đóa hoa sen lặng lẽ, âm thầm tỏa hương cho đời gợi lên sự hi sinh thầm lặng mà cao quý. Mẹ đã dành cả cuộc đời vất vả, “giọt máu hòa theo dòng lệ” để nuôi con khôn lớn. Khi con trưởng thành, mẹ lại lùi về phía sau, nhường cho con khoảng trời rộng lớn để bay cao, bay xa. Đặc biệt, những câu thơ cuối nói về sự ra đi của mẹ khiến em nghẹn ngào, xót xa. Dù mẹ không còn trên đời, tình yêu của mẹ vẫn như hương sen còn mãi, nâng đỡ và soi sáng cuộc đời con. Bài thơ nhắc em phải biết yêu thương, trân trọng và báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ khi còn có thể.
Nếu gặp lại một người bạn như anh gầy, em sẽ cư xử chân thành, tự nhiên và tôn trọng như trước đây, không vì địa vị hay hoàn cảnh mà thay đổi thái độ. Em sẽ nhẹ nhàng khuyên bạn đừng quá khúm núm hay tự ti, bởi tình bạn thực sự không dựa trên chức quyền hay tiền bạc mà dựa trên sự chân thành và bình đẳng. Cách ứng xử của anh béo gợi cho em bài học về sự thẳng thắn và tôn trọng tình bạn. Anh béo đã khó chịu khi thấy bạn mình trở nên xu nịnh và muốn giữ mối quan hệ như thuở nhỏ. Điều đó nhắc em rằng trong cuộc sống, dù thành đạt đến đâu, chúng ta cũng nên sống giản dị, chân thành và coi trọng tình nghĩa hơn địa vị xã hội.
Nếu gặp lại một người bạn như anh gầy, em sẽ cư xử chân thành, tự nhiên và tôn trọng như trước đây, không vì địa vị hay hoàn cảnh mà thay đổi thái độ. Em sẽ nhẹ nhàng khuyên bạn đừng quá khúm núm hay tự ti, bởi tình bạn thực sự không dựa trên chức quyền hay tiền bạc mà dựa trên sự chân thành và bình đẳng. Cách ứng xử của anh béo gợi cho em bài học về sự thẳng thắn và tôn trọng tình bạn. Anh béo đã khó chịu khi thấy bạn mình trở nên xu nịnh và muốn giữ mối quan hệ như thuở nhỏ. Điều đó nhắc em rằng trong cuộc sống, dù thành đạt đến đâu, chúng ta cũng nên sống giản dị, chân thành và coi trọng tình nghĩa hơn địa vị xã hội.
Qua bài thơ, em hiểu rằng “Sống là dâng tặng” nghĩa là sống biết cho đi, biết cống hiến những điều tốt đẹp cho cuộc đời. Hình ảnh chim yến chắt chiu máu mình làm tổ cho thấy sự hi sinh thầm lặng nhưng đầy ý nghĩa. Dù nhỏ bé, chim yến vẫn góp phần tạo nên giá trị cho thế gian. Điều đó gợi nhắc con người rằng mỗi chúng ta đều có thể đóng góp theo cách riêng của mình. Sống không chỉ để nhận mà còn để sẻ chia yêu thương, giúp đỡ người khác. Khi biết dâng tặng, cuộc sống sẽ trở nên có ý nghĩa và đáng trân trọng hơn. Em nghĩ mỗi người nên sống có ước mơ, có khát vọng và biết cống hiến để cuộc đời thêm tốt đẹp.
Qua khát vọng của chim yến trong bài thơ, em thấy rằng mỗi con người trong cuộc sống hôm nay cũng cần có ước mơ và khát vọng riêng cho mình. Chim yến tuy nhỏ bé nhưng vẫn bền bỉ xây tổ, sống hết mình giữa sóng gió để thực hiện ước mơ. Điều đó gợi cho con người bài học về ý chí, nghị lực và tinh thần tự lập. Trong cuộc sống hiện đại, khát vọng giúp chúng ta có động lực vượt qua khó khăn, thử thách để vươn tới tương lai tốt đẹp hơn. Dù hoàn cảnh có khắc nghiệt, chỉ cần có niềm tin và quyết tâm, con người vẫn có thể tạo nên giá trị cho bản thân và xã hội. Vì vậy, mỗi người trẻ cần nuôi dưỡng ước mơ và nỗ lực không ngừng để biến khát vọng thành hiện thực.
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nam Cao là nhà văn tiêu biểu với những trang viết giàu giá trị nhân đạo. Truyện ngắn Lão Hạc đã để lại trong lòng người đọc nhiều xúc động sâu sắc về số phận người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám. Trước hết, nhân vật Lão Hạc hiện lên là một người nông dân nghèo khổ, bất hạnh. Vợ mất sớm, con trai vì nghèo mà phải bỏ đi làm đồn điền cao su, lão sống cô đơn với mảnh vườn và con chó Vàng – kỉ vật của con. Cuộc sống túng quẫn khiến lão phải bán đi con chó mà mình hết mực yêu thương. Sau khi bán chó, lão vô cùng đau đớn, dằn vặt, tự trách bản thân. Chi tiết ấy cho thấy Lão Hạc là người giàu tình cảm, sống nhân hậu và đầy lòng tự trọng. Không chỉ vậy, Lão Hạc còn là người cha thương con sâu sắc. Lão quyết giữ lại mảnh vườn cho con, thà chịu đói khổ chứ không tiêu vào tài sản của con. Cuối cùng, lão chọn cái chết đau đớn để bảo toàn mảnh vườn và giữ trọn lòng tự trọng. Cái chết của lão khiến người đọc xót xa, đồng thời tố cáo xã hội phong kiến bất công đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng. Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật chân thực, miêu tả tâm lí tinh tế và giọng kể đầy cảm thông, Nam Cao đã khắc họa thành công hình ảnh người nông dân nghèo nhưng giàu lòng tự trọng và tình yêu thương. Qua đó, tác phẩm thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc và tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn. Lão Hạc không chỉ là câu chuyện về một con người cụ thể mà còn là tiếng nói thương cảm dành cho những số phận nghèo khổ trong xã hội cũ. Tác phẩm giúp em hiểu hơn về cuộc sống khó khăn của người nông dân xưa và càng trân trọng những giá trị của tình thương, lòng tự trọng trong cuộc sống hôm nay.
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nam Cao là nhà văn tiêu biểu với những trang viết giàu giá trị nhân đạo. Truyện ngắn Lão Hạc đã để lại trong lòng người đọc nhiều xúc động sâu sắc về số phận người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám. Trước hết, nhân vật Lão Hạc hiện lên là một người nông dân nghèo khổ, bất hạnh. Vợ mất sớm, con trai vì nghèo mà phải bỏ đi làm đồn điền cao su, lão sống cô đơn với mảnh vườn và con chó Vàng – kỉ vật của con. Cuộc sống túng quẫn khiến lão phải bán đi con chó mà mình hết mực yêu thương. Sau khi bán chó, lão vô cùng đau đớn, dằn vặt, tự trách bản thân. Chi tiết ấy cho thấy Lão Hạc là người giàu tình cảm, sống nhân hậu và đầy lòng tự trọng. Không chỉ vậy, Lão Hạc còn là người cha thương con sâu sắc. Lão quyết giữ lại mảnh vườn cho con, thà chịu đói khổ chứ không tiêu vào tài sản của con. Cuối cùng, lão chọn cái chết đau đớn để bảo toàn mảnh vườn và giữ trọn lòng tự trọng. Cái chết của lão khiến người đọc xót xa, đồng thời tố cáo xã hội phong kiến bất công đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng. Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật chân thực, miêu tả tâm lí tinh tế và giọng kể đầy cảm thông, Nam Cao đã khắc họa thành công hình ảnh người nông dân nghèo nhưng giàu lòng tự trọng và tình yêu thương. Qua đó, tác phẩm thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc và tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn. Lão Hạc không chỉ là câu chuyện về một con người cụ thể mà còn là tiếng nói thương cảm dành cho những số phận nghèo khổ trong xã hội cũ. Tác phẩm giúp em hiểu hơn về cuộc sống khó khăn của người nông dân xưa và càng trân trọng những giá trị của tình thương, lòng tự trọng trong cuộc sống hôm nay.
Bài thơ Khi mùa mưa đến thể hiện cảm hứng yêu thương tha thiết của nhà thơ trước mùa mưa quê hương. Mưa không chỉ làm tươi tốt làng quê mà còn đánh thức những rung động sâu lắng trong tâm hồn con người. Qua hình ảnh mưa rơi trên mái tóc, trên lá, tiếng trống, bến bờ và phù sa, tác giả bộc lộ niềm vui, sự hi vọng và khát khao cống hiến cho cuộc đời. Mùa mưa hiện lên vừa gần gũi, vừa giàu ý nghĩa biểu tượng, gợi cảm giác bình yên và ấm áp. Qua đó, ta cảm nhận được tình yêu quê hương sâu nặng và tinh thần sống nhân hậu, hướng về sự bồi đắp cho cuộc sống.