Trần Đức Quang Thắng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản Hoa rừng là tự sự
Câu 2.
Nhân vật Phước hái hoa để chuẩn bị cho lễ kết nạp đoàn viên mới tổ chức vào tối hôm đó.
Câu 3.
Nhân vật Phước được khắc hoạ với nhiều phẩm chất đáng quý: dũng cảm, kiên cường, giàu tinh thần trách nhiệm, giàu đức hi sinh, đồng thời khiêm nhường, nhân hậu và giàu lòng vị tha.
Câu 4.
Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba.
Tác dụng: giúp người kể bao quát toàn bộ câu chuyện, miêu tả khách quan hành động, suy nghĩ của nhiều nhân vật, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp thầm lặng của nhân vật Phước.
Câu 5.
Từ văn bản, em rút ra bài học rằng khi nhìn nhận và đánh giá người khác, ta cần tránh vội vàng, phiến diện. Mỗi con người đều có những hi sinh thầm lặng và hoàn cảnh riêng mà ta chưa hiểu hết. Chỉ khi biết lắng nghe, quan sát và đặt mình vào vị trí của người khác, ta mới có thể đánh giá đúng đắn. Sự cảm thông và tôn trọng sẽ giúp con người gần nhau hơn và tránh những hối tiếc không đáng có.
a. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa trong lớp phủ thổ nhưỡng của nước ta được thể hiện ở các điểm sau:
- Quá trình hình thành và phân hóa đất chịu ảnh hưởng mạnh của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Nhiệt độ cao, lượng mưa lớn và ẩm độ không khí cao làm cho quá trình phong hóa đá mẹ diễn ra mạnh mẽ, tạo điều kiện hình thành nhiều loại đất khác nhau.
- Quá trình rửa trôi, rửa xói diễn ra mạnh, đặc biệt ở vùng đồi núi, khiến đất dễ bị chua, nghèo bazơ và dễ bị xói mòn.
- Đất feralit (đất đỏ vàng) là loại đất phổ biến nhất ở vùng đồi núi nước ta – kết quả của quá trình phong hóa mạnh trong điều kiện nhiệt độ cao, ẩm ướt quanh năm.
- Ở vùng đồng bằng, do ảnh hưởng của chế độ mưa theo mùa và thủy văn phức tạp, hình thành nhiều loại đất khác như đất phù sa, đất mặn, đất phèn, phản ánh rõ sự tác động của khí hậu gió mùa.
b. Nguyên nhân dẫn đến suy giảm tài nguyên sinh vật ở nước ta:
- Khai thác quá mức tài nguyên rừng, thủy sản, và động thực vật hoang dã để phục vụ đời sống và xuất khẩu.
- Phá rừng để lấy đất sản xuất, làm nương rẫy, khai thác gỗ, dẫn đến mất nơi cư trú của nhiều loài sinh vật.
- Ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí do hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt làm giảm chất lượng môi trường sống của sinh vật.
- Biến đổi khí hậu, thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên.
- Du nhập loài ngoại lai và suy giảm đa dạng gen, khiến nhiều loài bản địa bị cạnh tranh, thậm chí tuyệt chủng.
a. Những nét chính về tình hình kinh tế thời Nguyễn:
- Nông nghiệp: Được nhà nước chú trọng phục hồi sau chiến tranh, mở rộng diện tích canh tác, đào kênh mương, đắp đê (như kênh Vĩnh Tế). Tuy nhiên, ruộng đất tập trung trong tay địa chủ, nông dân bị bóc lột nặng nề → sản xuất trì trệ.
- Thủ công nghiệp: Có phát triển, đặc biệt là thủ công nghiệp nhà nước (đúc tiền, đóng tàu, dệt, làm đồ sứ...), song thủ công nghiệp tư nhân bị hạn chế do chính sách bảo thủ, nên nhìn chung kém phát triển.
- Thương nghiệp: Bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ, hạn chế giao thương với nước ngoài; chỉ cho buôn bán ở một vài nơi như Huế, Đà Nẵng, Gia Định. Do đó, kinh tế hàng hóa suy yếu, nội thương và ngoại thương đều không phát triển.
→ Tổng kết: Nền kinh tế thời Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX mang tính nông nghiệp tự cung tự cấp, bảo thủ, kém phát triển so với nhu cầu của xã hội.
b. Nét nổi bật về tình hình xã hội thời Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX:
- Xã hội có sự phân hóa giai cấp sâu sắc: vua quan, địa chủ, quý tộc hưởng đặc quyền; trong khi nông dân và dân nghèo bị bóc lột nặng nề.
- Đời sống nhân dân cực khổ, đói kém, sưu thuế nặng nề, thiên tai thường xuyên.
- Các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tiếp trên khắp cả nước (đặc biệt là khởi nghĩa của Nông Văn Vân, Lê Duy Lương, Cao Bá Quát...).
→ Số lượng các cuộc khởi nghĩa cho thấy:
- Nhân dân rất bất mãn với triều đình nhà Nguyễn.
- Xã hội bất ổn, mâu thuẫn giai cấp gay gắt.
- Chính quyền phong kiến Nguyễn bảo thủ, yếu kém, không đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, dẫn đến nhiều phong trào đấu tranh.