Tống Ngọc Bích

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Tống Ngọc Bích
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1 :

Thế giới ngày nay là một "phẳng" với sự kết nối không biên giới về kinh tế, văn hóa và công nghệ. Trong dòng chảy hội nhập mãnh liệt đó, thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước – đang đứng trước những cơ hội vàng nhưng cũng gánh vác trên vai những trọng trách vô cùng lớn lao đối với dân tộc.

Trước hết, trách nhiệm hàng đầu của người trẻ chính là không ngừng học tập và làm chủ tri thức. Trong kỷ nguyên số, trí tuệ là vũ khí sắc bén nhất để khẳng định vị thế quốc gia. Việc trau dồi ngoại ngữ, kỹ năng công nghệ và kiến thức chuyên môn không chỉ để phát triển bản thân mà còn để đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc, tránh nguy cơ tụt hậu trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Thứ hai, hội nhập không có nghĩa là "hòa tan". Trách nhiệm của thế hệ trẻ là phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Khi bước ra thế giới, chúng ta cần mang theo niềm tự hào về lịch sử, về tà áo dài hay những giá trị nhân văn của người Việt. Mỗi người trẻ phải là một "sứ giả văn hóa", để bạn bè quốc tế thấy rằng Việt Nam không chỉ phát triển về kinh tế mà còn giàu có về tâm hồn và truyền thống.

Bên cạnh đó, người trẻ cần có tư duy toàn cầu nhưng hành động vì lợi ích quốc gia. Đó là ý thức về chủ quyền lãnh thổ, là trách nhiệm bảo vệ môi trường và tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái. Chúng ta cần có cái nhìn đa chiều để tiếp thu tinh hoa nhân loại, đồng thời phải đủ tỉnh táo để phản biện, đấu tranh chống lại những luồng tư tưởng sai lệch, gây hại đến an ninh và sự ổn định của đất nước.

Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên sống thờ ơ, "hướng ngoại" cực đoan mà quên đi gốc rễ, hoặc ngại dấn thân, thiếu khát vọng. Đây là những biểu hiện đáng lo ngại cần được khắc phục bằng sự giáo dục và tự rèn luyện.

Tóm lại, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong thời kỳ hội nhập là sự tổng hòa giữa tài năng và bản lĩnh. Đất nước có thể vươn xa hay không phụ thuộc vào chính sự nỗ lực của chúng ta ngày hôm nay. Hãy học tập với tinh thần của Sherlock Holmes – nhạy bén, logic – và yêu nước với trái tim nồng nàn của Nguyễn Đình Thi, để Việt Nam mãi là niềm tự hào trong mắt bạn bè quốc tế.


câu 1 :Văn bản trên thuộc thể loại truyện trinh thám.

câu 2 :Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất.

Câu 3. Phân tích câu ghép:Loại câu ghép: Đây là câu ghép đẳng lập.

Xác định các vế câu:

Vế 1: Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà

Vế 2: và ở đó, tôi thấy rõ những vệt bánh xe...

Vế 3: và qua một vài câu hỏi, tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước.

Quan hệ ý nghĩa: Các vế câu có quan hệ ý nghĩa: Các vế câu có quan hệ nối tiếp và liệt kê. Chúng diễn tả trình tự các hành động và những phát hiện của nhân vật thám tử khi quan sát tại hiện trường.

Câu 4:Vụ án được coi là nan giải vì những lý do sau:

Hiện trường mâu thuẫn: Trên thi thể không có thương tích nhưng khắp phòng lại có nhiều vết máu.

Manh mối kỳ lạ, rời rạc: Xuất hiện chữ "Rache" viết bằng máu, một chiếc nhẫn cưới của phụ nữ, dấu xe ngựa bên ngoài... nhưng không có sợi dây liên kết rõ ràng.

Không xác định được động cơ: Tiền bạc không bị mất, nạn nhân là người lạ từ nơi khác đến (Mỹ), gây khó khăn trong việc tìm kiếm thủ phạm và mục đích gây án.

Tính chất liên hoàn: Ngay khi đang điều tra nạn nhân thứ nhất thì nạn nhân thứ hai (thư ký của người thứ nhất) bị giết, khiến các viên thanh tra cảnh sát rơi vào bế tắc.hệ nối tiếp và liệt kê. Chúng diễn tả trình tự các hành động và những phát hiện của nhân vật thám tử khi quan sát tại hiện trường.

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của Sherlock Holmes

Cách lập luận của Sherlock Holmes trong văn bản rất khoa học, logic và sắc bén. Có thể nhận xét qua các điểm sau:

Lập luận ngược chiều (Suy luận diễn dịch): Holmes đi từ kết quả (cái chết của nạn nhân) để truy ngược lại các nguyên nhân và diễn biến đã xảy ra.

Quan sát tỉ mỉ và biến vật chứng thành "ngôn ngữ": Ông không bỏ qua bất kỳ chi tiết nhỏ nào (vết bánh xe, mùi trên môi nạn nhân, chiều dài bước chân...). Đối với ông, mỗi dấu vết đều mang một ý nghĩa xác thực.

Phương pháp loại trừ: Ông liệt kê các giả thiết (chính trị, tiền bạc, tình ái) rồi dùng các bằng chứng thực tế để loại bỏ những giả thiết vô lý, cuối cùng giữ lại sự thật duy nhất.

Tính hệ thống: Như chính lời ông nói, đó là một "chuỗi sự việc logic móc nối nhau liên tục, không một kẽ hở". Cách lập luận của ông dựa trên thực tế khách quan chứ không dựa vào linh cảm hay định kiến.


câu 1:

Bài thơ "Việt Nam quê hương ta" của Nguyễn Đình Thi là một bản tình ca thiết tha, ca ngợi vẻ đẹp đất nước và con người Việt Nam. Bằng thể thơ lục bát nhịp nhàng, tác giả đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, trù phú với "biển lúa" mênh mông, "cánh cò" dập dờn và đỉnh "Trường Sơn" hùng vĩ. Thế nhưng, đọng lại sâu sắc nhất trong lòng người đọc chính là hình ảnh con người Việt Nam. Đó là những con người cần cù, "áo nâu nhuộm bùn", dẫu trải qua bao "thương đau", "máu lửa" vẫn giữ trọn vẻ hiền lành, thủy chung và đôi bàn tay tài hoa "như có phép tiên". Phép điệp từ "nhớ" ở khổ cuối cùng phép liệt kê những hình ảnh bình dị như "khoai ngô", "rau muống", "quả cà" đã đẩy cảm xúc lên cao trào, thể hiện sự gắn bó máu thịt và nỗi nhớ da diết của người con đi xa hướng về nguồn cội. Qua bài thơ, em cảm nhận được niềm tự hào kiêu hãnh và tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ, đồng thời tự nhắc nhở bản thân phải biết trân trọng và giữ gìn những giá trị cao quý của dân tộc.

câu 2 :

Trải qua bốn nghìn năm văn hiến với bao thăng trầm lịch sử, điều gì đã giúp một dân tộc nhỏ bé có thể đứng vững trước những cơn bão táp ngoại xâm và phát triển rực rỡ đến ngày nay? Câu trả lời nằm ở "tinh thần dân tộc" – một nguồn sức mạnh nội sinh vô tận, là sợi dây vô hình gắn kết triệu trái tim người Việt.

Tinh thần dân tộc trước hết được biểu hiện qua lòng yêu nước nồng nàn và ý chí bất khuất. Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Từ Bà Trưng, Bà Triệu đến thời đại Hồ Chí Minh, khi Tổ quốc cần, tinh thần ấy lại "kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn", nhấn chìm mọi bè lũ bán nước và cướp nước. Đó là sự sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của cha ông.

Bên cạnh đó, tinh thần dân tộc còn là sự đoàn kết, tương thân tương ái. Người Việt luôn tâm niệm "Bầu ơi thương lấy bí cùng" hay "Nhiễu điều phủ lấy giá gương". Tinh thần ấy tỏa sáng rực rỡ nhất trong những lúc khó khăn, hoạn nạn như thiên tai, dịch bệnh. Hình ảnh những chuyến xe cứu trợ hướng về miền Trung lũ lụt hay sự đồng lòng của cả nước trong đại dịch COVID-19 chính là minh chứng hùng hồn nhất cho sức mạnh của sự tử tế và tình đồng bào.

Trong thời đại hòa bình và hội nhập, tinh thần dân tộc lại chuyển mình thành khát vọng vươn lên, khẳng định vị thế đất nước. Đó là sự cần cù lao động, sáng tạo của những con người làm rạng danh Việt Nam trên trường quốc tế trong các lĩnh vực khoa học, thể thao, nghệ thuật. Yêu nước lúc này không chỉ là bảo vệ biên cương mà còn là bảo vệ bản sắc văn hóa, là lòng tự tôn dân tộc khi bước ra thế giới.

Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận nhỏ có tư tưởng sùng ngoại, thờ ơ với các giá trị truyền thống hoặc lợi dụng tinh thần dân tộc để gây chia rẽ. Đây là những hành vi cần được phê phán và chấn chỉnh để dòng máu lạc hồng luôn chảy đúng hướng.

Tóm lại, tinh thần dân tộc là tài sản vô giá, là bệ phóng để Việt Nam hóa rồng, hóa hổ. Là thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta cần nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc bằng những hành động thiết thực: học tập tốt, rèn luyện đạo đức và giữ gìn nét đẹp văn hóa quê hương. Bởi lẽ, khi ta mang trong mình tinh thần dân tộc, ta sẽ bao giờ cảm thấy lẻ loi trên con đường chinh phục những đỉnh cao mới.

Câu 1:Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát

Câu 2:Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm

Câu 3: biện pháp tu từ nổi bật nhất là điệp từ (từ "nhớ") kết hợp với phép liệt kê.

Dẫn chứng: "Ta đi ta nhớ...", "nhớ núi rừng", "nhớ dòng sông", "nhớ đồng ruộng", "nhớ khoai ngô".

Tác dụng: * Về nội dung: Nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, khôn nguôi của người đi xa hướng về quê nhà. Phép liệt kê các hình ảnh bình dị (khoai ngô, rau muống, quả cà) cho thấy tình yêu quê hương bắt nguồn từ những điều giản dị, gần gũi nhất.

Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu dồn dập, tha thiết cho lời thơ, làm tăng sức biểu cảm và khẳng định sự gắn bó máu thịt giữa con người với mảnh đất quê hương.

Câu 4. Phẩm chất con người Việt Nam

Qua bài thơ, con người Việt Nam hiện lên với những phẩm chất cao đẹp:

Cần cù, chịu khó: "Mặt người vất vả in sâu", "áo nâu nhuộm bùn".

Anh hùng, bất khuất: Trong chiến đấu thì kiên cường, sẵn sàng "đạp quân thù xuống đất đen".

Hiền lành, vị tha: Khi hòa bình lại trở về với bản chất "hiền như xưa".

Tài hoa, khéo léo: "Tay người như có phép tiên", làm nên bao sản vật quý báu.

Thủy chung, tình nghĩa: "Yêu ai yêu trọn tấm tình thủy chung.

tCâu 5. Đề tài và Chủ đề

Đề tài: Quê hương, đất nước.

Chủ đề: Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp trù phú, tươi đẹp của thiên nhiên Việt Nam; đồng thời tôn vinh truyền thống lịch sử vẻ vang, phẩm chất anh hùng, cần cù và tâm hồn nhân hậu của con người Việt Nam. Qua đó, tác giả bộc lộ niềm tự hào và tình yêu quê hương sâu sắc.ấm tình thuỷ chung".


câu 2

:"Quê hương là gì hả mẹ / Mà cô giáo dạy phải yêu?". Những lời thơ của Đỗ Trung Quân luôn nhắc nhở chúng ta về một bến đỗ bình yên nhất trong cuộc đời mỗi người. Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, mà còn là điểm tựa tinh thần không thể thiếu, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và bản sắc của mỗi cá nhân.

Trước hết, quê hương chính là cội nguồn, là cái nôi nuôi dưỡng ta trưởng thành. Đó là nơi lưu giữ những kỷ niệm tuổi thơ đẹp đẽ, là lời ru của mẹ, là cánh đồng thẳng cánh cò bay hay những con phố nhỏ rêu phong. Chính những giá trị văn hóa, phong tục tập quán và tình làng nghĩa xóm đã bồi đắp cho ta tâm hồn phong phú, giúp ta biết yêu thương và sẻ chia.

Thứ hai, quê hương là điểm tựa tinh thần vững chãi. Trong dòng đời xô bồ, khi đối mặt với những thất bại hay mệt mỏi, ý niệm về "nhà", về quê hương luôn là liều thuốc chữa lành hiệu quả nhất. Quê hương dang tay đón ta trở về với sự bao dung, không toan tính, giúp ta tìm lại sự cân bằng và tiếp thêm động lực để vững bước trên con đường phía trước.

Bên cạnh đó, quê hương còn tạo nên bản sắc riêng biệt cho mỗi con người. Đi bất cứ nơi đâu, tiếng nói, cách sống và lòng tự hào dân tộc luôn là "giấy thông hành" khẳng định giá trị của chúng ta. Một người biết yêu và trân trọng quê hương sẽ có ý thức trách nhiệm với cộng đồng, biết sống cống hiến để dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, vẫn còn một bộ phận người trẻ sống thờ ơ, quên đi gốc gác hoặc chỉ biết chạy theo những giá trị vật chất xa hoa mà quay lưng với nơi mình .

Tóm lại, quê hương là báu vật vô giá mà mỗi người cần phải trân trọng và gìn giữ. Yêu quê hương không nhất thiết phải là những điều lớn lao, mà đôi khi chỉ là ý thức gìn giữ vẻ đẹp của nơi mình sống hay luôn nhớ về cội nguồn. Hãy để quê hương mãi là ngọn lửa sưởi ấm trái tim ta trên mọi dặm đường đời.ã sinh ra. Đó là một lối sống đáng phê phán vì "Người nào quay lưng lại với quê hương là người đó đã đánh mất chính mình".


câu 2

:"Quê hương là gì hả mẹ / Mà cô giáo dạy phải yêu?". Những lời thơ của Đỗ Trung Quân luôn nhắc nhở chúng ta về một bến đỗ bình yên nhất trong cuộc đời mỗi người. Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, mà còn là điểm tựa tinh thần không thể thiếu, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và bản sắc của mỗi cá nhân.

Trước hết, quê hương chính là cội nguồn, là cái nôi nuôi dưỡng ta trưởng thành. Đó là nơi lưu giữ những kỷ niệm tuổi thơ đẹp đẽ, là lời ru của mẹ, là cánh đồng thẳng cánh cò bay hay những con phố nhỏ rêu phong. Chính những giá trị văn hóa, phong tục tập quán và tình làng nghĩa xóm đã bồi đắp cho ta tâm hồn phong phú, giúp ta biết yêu thương và sẻ chia.

Thứ hai, quê hương là điểm tựa tinh thần vững chãi. Trong dòng đời xô bồ, khi đối mặt với những thất bại hay mệt mỏi, ý niệm về "nhà", về quê hương luôn là liều thuốc chữa lành hiệu quả nhất. Quê hương dang tay đón ta trở về với sự bao dung, không toan tính, giúp ta tìm lại sự cân bằng và tiếp thêm động lực để vững bước trên con đường phía trước.

Bên cạnh đó, quê hương còn tạo nên bản sắc riêng biệt cho mỗi con người. Đi bất cứ nơi đâu, tiếng nói, cách sống và lòng tự hào dân tộc luôn là "giấy thông hành" khẳng định giá trị của chúng ta. Một người biết yêu và trân trọng quê hương sẽ có ý thức trách nhiệm với cộng đồng, biết sống cống hiến để dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, vẫn còn một bộ phận người trẻ sống thờ ơ, quên đi gốc gác hoặc chỉ biết chạy theo những giá trị vật chất xa hoa mà quay lưng với nơi mình .

Tóm lại, quê hương là báu vật vô giá mà mỗi người cần phải trân trọng và gìn giữ. Yêu quê hương không nhất thiết phải là những điều lớn lao, mà đôi khi chỉ là ý thức gìn giữ vẻ đẹp của nơi mình sống hay luôn nhớ về cội nguồn. Hãy để quê hương mãi là ngọn lửa sưởi ấm trái tim ta trên mọi dặm đường đời.ã sinh ra. Đó là một lối sống đáng phê phán vì "Người nào quay lưng lại với quê hương là người đó đã đánh mất chính mình".


Câu 1 :Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ

Câu 2:Đề tài của bài thơ là bức tranh thiên nhiên và sinh hoạt nơi làng quê.

Câu 3:biện pháp nhân hóa được sử dụng rất tinh tế và ấn tượng:

"Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át / Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa"

Tác dụng: Tác giả sử dụng các từ ngữ chỉ tâm trạng, trạng thái của con người như "rũ rợi", "bơ phờ" để gán cho cây tre, cây chuối. Biện pháp này không chỉ làm cho cảnh vật trở nên sinh động, có hồn mà còn nhấn mạnh sự tác động khắc nghiệt của cơn mưa. Cảnh vật dường như cũng biết mệt mỏi, biết chịu đựng cái lạnh, qua đó gián tiếp gợi lên cái buồn, cái hiu quạnh của không gian.

Câu 4. Hình ảnh và cảm nhận về bến đò ngày mưa

Bức tranh được miêu tả qua các hình ảnh:

Thiên nhiên: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, trời mưa tầm tã.

Cảnh vật: Con thuyền cắm lại trơ vơ, quán hàng không khách, đường lầy lội.

Con người: Bác lái buôn hút thuốc, bà hàng ho sù sụ, người đi chợ đội thúng nép mình trong mưa.

Cảm nhận:

Những hình ảnh này gợi lên một không gian vắng lặng, ảm đạm và lạnh lẽo. Cơn mưa như bao trùm và làm nhòe đi sức sống của vạn vật. Bến đò vốn thường ngày nhộn nhịp giờ đây trở nên cô quạnh, cũ kỹ và mang đậm vẻ đẹp của sự tĩnh lặng, khắc khổ.

Câu 5. Tâm trạng và cảm xúc của bài thơ

Qua bức tranh bến đò ngày mưa, bài thơ gợi lên:

Nỗi buồn man mác, trầm mặc: Một nỗi buồn đặc trưng của thơ mới khi đối diện với cái mênh mông, hiu quạnh của đất trời.

Sự đồng cảm, xót xa: Ánh nhìn trìu mến nhưng cũng đầy nỗi niềm của tác giả trước cuộc sống nghèo khó, lặng lẽ của người dân quê (bà hàng ho, người đi chợ lầm lũi).

Tình yêu quê hương thiết tha: Dù cảnh vật có buồn, có lạnh lẽo nhưng vẫn được quan sát bằng một tâm hồn tinh tế, cho thấy sự gắn bó sâu sắc của nhà thơ với mảnh đất quê hương.

Sô phan cua ngươi phu nu trong xhpk