Hoàng Thu Hậu
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. -Thể loại: kịch (kịch nói). Câu 2. -Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng ngôn ngữ độc thoại (lời nói một mình của thầy Thông Thu), kết hợp với một số chỉ dẫn sân khấu. Câu 3. -Một số lời chỉ dẫn sân khấu: +(bóp trán nghĩ ngợi) +(một mình, thở dài) +(đứng dậy lấy chai dấm thanh…) +(cầm cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống) +(lại khuấy) *Vai trò: -Những chỉ dẫn này giúp: +Thể hiện rõ hành động, trạng thái của nhân vật. +Làm nổi bật diễn biến tâm lí (do dự, giằng xé, tuyệt vọng). +Giúp người đọc hình dung sinh động như đang xem trên sân khấu. +Tăng tính kịch và sức biểu cảm cho văn bản.
Câu 4. *Diễn biến tâm lí của thầy Thông Thu: -Ở hồi thứ Hai: +Nhận thức rõ tình trạng khánh kiệt của gia đình. +Tự kiểm điểm, dằn vặt, ân hận về lối sống ăn chơi, trác táng. +Ý thức được lỗi lầm và sự sa sút đạo đức của bản thân. -Ở hồi thứ Ba: +Rơi vào tuyệt vọng khi tiền hết, danh dự mất, đối mặt nguy cơ tù tội. +Nảy sinh ý định tìm đến cái chết để giải thoát. +Tâm lí giằng co: muốn chết nhưng còn lo cho mẹ, vợ, em. Cuối cùng vẫn nghiêng về cái chết, nhưng còn chần chừ (viết thư cho em trước). --> Tâm lí nhân vật chuyển biến từ ân hận đến tuyệt vọng, giằng xé rồi bế tắc. Câu 5. Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu.Bởi vì cái chết không giải quyết được vấn đề mà còn đẩy gia đình vào hoàn cảnh khó khăn hơn. Dù mắc sai lầm, con người vẫn có thể sửa chữa và làm lại từ đầu. Thầy Thông Thu cần đối mặt với hậu quả, chịu trách nhiệm và tìm cách khắc phục, thay vì trốn tránh. Việc lựa chọn cái chết chỉ thể hiện sự yếu đuối và bế tắc, không phải là giải pháp đúng đắn.
a. Cường độ điện trường trong màng tế bào là:
\(E = \frac{U}{d} = \frac{0 , 07}{8.1 0^{- 9}} = 8 , 75.1 0^{6}\) V/m
b. Điện trường trong màng tế bào sẽ ảnh hưởng từ phía ngoài vào trong. Vì lực tác dụng lên ion âm ngược chiều với cường độ điện trường nên lực điện sẽ đẩy ion âm ra phía ngoài tế bào. Độ lớn của lực điện bằng:
\(F = q E = 3 , 2.1 0^{- 19} . 8 , 75.1 0^{6} = 28.1 0^{- 13}\) N
a. Năng lượng tối đa mà bộ tụ của máy hàn có thể tích trữ được:
\(W_{m a x} = \frac{C U^{2}}{2} = \frac{99000.1 0^{- 6} . 20 0^{2}}{2} = 1980\) J
b. Lưu ý công suất hàn sẽ đạt tối đa khi thời gian phóng điện là ngắn nhất.
Vậy năng lượng điện được giải phóng sau mỗi lần hàn với công suất tối đa là:
\(W_{1} = P . t = 2500.0 , 5 = 1250\) J
Năng lượng điện được giải phóng sau mỗi lần hàn với công suất tối đa chiếm số phần trăm năng lượng điện đã tích lũy là:
\(\frac{W_{1}}{W_{m a x}} = \frac{1250}{1980} = 63 , 1 \%\)
a. Người ta cọ xát bằng tay để các mép túi nylon tự tách ra.
Khi cọ xát thì túi nylon sẽ nhiễm điện, các mảnh nylon nhiễm điện cùng dấu nên các mép sẽ đẩy nhau ra.
b. Gọi O1, O2, O lần lượt là vị trí đặt các điện tích \(q_{1} , q_{2} , q_{3}\).
Điện tích \(q_{3}\) nằm cân bằng khi và chỉ khi lực tổng hợp tác dụng lên \(q_{3}\) bằng 0, ta có:
\(\left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{13} + \left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{23} = \overset{\rightarrow}{0} \Rightarrow \left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{13} = - \left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{23} \Rightarrow \frac{k \mid q_{1} q_{3} \mid}{\left(\left(\right. O_{1} O \left.\right)\right)^{2}} = \frac{k \mid q_{2} q_{3} \mid}{\left(\left(\right. O_{2} O \left.\right)\right)^{2}}\) (1)
Ta thấy vị trí của O phải nằm trên phương O1O2 và trong đoạn O1O2 để hai vectơ lực \(\left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{13}\) và \(\left(\overset{\rightarrow}{F}\right)_{23}\) cùng phương ngược chiều.
Từ đó ta có: \(O_{1} O + O_{2} O = O_{1} O_{2} \Rightarrow O_{2} O = O_{1} O_{2} - O_{1} O\) (2)
Thay (2) vào (1) ta có: \(\frac{\mid q_{1} \mid}{\left(\left(\right. O_{1} O \left.\right)\right)^{2}} = \frac{\mid q_{2} \mid}{\left(\left(\right. O_{1} O_{2} - O_{1} O \left.\right)\right)^{2}}\)
Thay số ta tìm được: \(O_{1} O = 2 c m \Rightarrow O_{2} O = 4 c m\)
Vậy \(q_{3}\) có thể mang điện tích bất kì và đặt tại O trên đoạn thẳng nối O1O2 và cách \(q_{1}\) một khoảng bằng 2 cm.
Trường hợp \(q_{3}\) mang điện dương:
Trường hợp \(q_{3}\) mang điện âm:
Công thức tính tốc độ trung bình: Utb AC4H9 Cl At [C4H9Cl]0-[C4H9 Cl]t t Thay số: Utb 0,22-0,10 4 0,12 4 = 0,03 M/s Đáp án: Tốc độ trung bình của phản ứng là 0,03 M/s.
a)Phương trình phản ứng: 2KMnO4+16HCl 2MnCl2+5Cl2 + 2KCl + 8H2O Giải thích: Chất oxi hóa: KMnO4 (Mn có số oxi hóa +7 giảm xuống +2) Chất khử: HCI (CI- có số oxi hóa -1 tăng lên 0 trong Cl₂) Quá trình oxi hóa: 2Cl Cl2 + 2e- Quá trình khử: Mn+7+5e → Mn+2
b)Phương trình phản ứng giữa Cl₂ và Nal: Cl2+2NaI → 2NaCl + I2 Tính số mol Nal: C= 0,1M; V = 200mL = 0,2LnNal = CV 0,1-0,2 = 0,02 mol Từ phương trình, 1 mol Cl₂ phản ứng với 2 mol Nal nCl2 0,02 2 = 0,01 mol Quay lại phương trình sinh Cl₂: Số mol Cl₂ cần: 2KMnO4 + 16HCl → 5Cl2 + ... Tỉ lệ: 2 mol KMnO4 → 5 mol Cl₂ 1 mol KMnO4 → 2,5 mol CI₂ 0,01 mol Cl₂ cần:
nKMnO4=0,01 /2,5 =0,004 mol Khối lượng KMnO4: M = 158 g/mol ⇒ m = 0,004158 = 0,632 g
Save the Elephants (STE) is a non-profit organization. It was started in 1993 by Iain Douglas-Hamilton. The aim of the organization is to make sure elephants do not die out and to protect the places where they live. STE works in three main areas: protection, research, and awareness. They try to stop people from hunting elephants illegally, especially in Africa and Asia. They also work with scientists to learn more about how elephants live and behave. Another important job of STE is to help people understand why elephants are important. They do this by using films, TV programs, and social media. So far, STE has supported 335 projects in 40 countries around the world.