Phạm Ngọc Hưng

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Ngọc Hưng
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. Phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản:

-Biểu cảm thể hiện thái độ trân trọng, ngợi ca (“cái bếp huyền thoại truyền mãi đến muôn đời”)

- Nghị luậnđưa ra nhận định, suy ngẫm về giá trị lịch sử (“cái bếp đã đi vào lịch sử cuộc kháng chiến vệ quốc…”)

-Tự sự có yếu tố kể (nhắc đến người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm và chiếc bếp của ông)

-Phương thức chính là biểu cảm kế hợp nghị luận

Câu 2.Văn bản nhắc đến sự việc: người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm đã sáng tạo ra chiếc bếp mang tên ông – chiếc bếp đã góp phần quan trọng trong cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc.


Câu 3.Cảm hứng ngợi ca, trân trọng và tự hào về những con người bình dị nhưng đã có phát minh lớn lao, góp phần làm nên chiến thắng của dân tộc. Đồng thời là niềm tin rằng những giá trị ấy sẽ sống mãi với thời gian.

Câu 4. Nội dung của văn bản:Khẳng định công lao của người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm và giá trị lịch sử của chiếc bếp Hoàng Cầm. Dù tên tuổi con người có thể bị lãng quên theo năm tháng, nhưng phát minh của ông – chiếc bếp Hoàng Cầm – đã trở thành một phần của lịch sử kháng chiến và sẽ còn được nhắc mãi như một huyền thoại.

Câu 5. Chi tiết gây ấn tượng và lý do

Mình ấn tượng với chi tiết:cái bếp đã đi vào lịch sử cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc có thể sẽ trở thành cái bếp huyền thoại truyền mãi đến muôn đời.Vì chi tiết này cho thấy sức sống bền bỉ của một sáng tạo xuất phát từ thực tiễn chiến đấu.Nó nâng tầm một vật dụng rất đời thường (cái bếp) thành biểu tượng lịch sử, thể hiện sự trân trọng của tác giả với những đóng góp thầm lặng nhưng vô cùng ý nghĩa trong kháng chiến.

1. Thể thơ lục bát biến thể (hoặc thơ song thất lục bát, căn cứ vào câu thơ thứ hai có 8 chữ, khác với thể lục bát truyền thống có 6 chữ ở câu đầu và 8 chữ ở câu sau).

2. Phương thức biểu đạt chính là tự sự, kết hợp với miêu tả và biểu cảm (thể hiện cảm xúc, thái độ đối với nhân vật).

3. Văn bản thuộc mô hình cốt truyện cổ tích về người dũng sĩ hoặc người mồ côi. Các sự kiện chính bao gồm:

Nhân vật Thạch Sanh mồ côi, sống nghèo khổ.

Thạch Sanh bị Lý Thông lừa gạt, phải chiến đấu với chằn tinh, đại bàng.

Thạch Sanh cứu công chúa và thái tử.

Thạch Sanh bị giam oan, sau được giải oan và cưới công chúa.

Mẹ con Lý Thông bị trừng trị thích đáng (bị sét đánh chết hoặc biến thành bọ hung).

4. Chi tiết kì ảo "sét đánh tức thì thiệt thần" trừng trị mẹ con Lý Thông có tác dụng thể hiện quan điểm và ước mơ của nhân dân về công lí. Nó gửi gắm thông điệp "ở hiền gặp lành, ác giả ác báo", khẳng định niềm tin vào sự công bằng trong xã hội và sự trừng phạt đích đáng cho cái ác.

5. Giống nhau: Cả hai văn bản đều kể về cuộc đời và chiến công của Thạch Sanh, ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của nhân vật và thể hiện ước mơ về công lý, hòa bình của nhân dân. Các nhân vật chính (Thạch Sanh, Lý Thông, công chúa) và các sự kiện chính đều tương đồng.

Khác nhau: Văn bản trong đề bài có thể có những dị bản về chi tiết (ví dụ, kết cục của mẹ con Lý Thông có thể khác nhau tùy theo bản kể) hoặc thể thơ (được viết lại dưới dạng văn vần hoặc thơ, thay vì văn xuôi như truyện cổ tích truyền thống).

1. Điểm nhìn ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mình). Người kể chuyện xưng "y", "vợ y", không tham gia vào câu chuyện nhưng biết hết mọi suy nghĩ, cảm xúc, hành động của nhân vật Thứ.

2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trườn Trở thành công chức hoặc có một công việc ổn định. Đoạn trích cho thấy Thứ lo sợ về viễn cảnh thất nghiệp, ăn bám vợ, và bị khinh thường nếu không có việc làm, điều này ngụ ý ước mơ có một cuộc sống có sự nghiệp và địa vị nhất định.

3. Biện pháp tu từ điệp ngữ và liệt kê. Tác dụng:

Điệp ngữ "y sẽ" và "chết mà chưa" cùng với phép liệt kê các từ "mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra" nhấn mạnh và tô đậm sự bế tắc, thảm hại, và nỗi sợ hãi tột cùng của nhân vật Thứ trước tương lai mờ mịt, vô nghĩa.

Góp phần bộc lộ sâu sắc tâm trạng bi quan, tuyệt vọng và sự bất lực của con người trước hoàn cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến đầy rẫy bất công, không có lối thoát cho những người trí thức nghèo.

Tạo nhịp điệu dồn dập, khắc khoáng, thể hiện sự bức bối, ngột ngạt trong suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật.

4. Cuộc sống bế tắc, con người bi quan.

Cuộc sống: Thiếu thốn về vật chất và tinh thần, không có việc làm ổn định, đối mặt với nguy cơ bị xã hội và chính bản thân khinh rẻ.

Con người: Mang nặng tâm lí tự ti, bi quan, tuyệt vọng. Thứ là hình ảnh đại diện cho tầng lớp thanh niên trí thức tiểu tư sản nghèo thời bấy giờ, khao khát sống có ý nghĩa nhưng lại bất lực trước hoàn cảnh.

5. Triết lí về ý nghĩa của sự sống và cái chết. Suy nghĩ:

Đoạn trích đặt ra vấn đề nhức nhối: sống mà không có mục đích, không có đóng góp gì thì chẳng khác nào đã chết.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sống có ước mơ, hoài bão và nỗ lực hành động để biến ước mơ thành hiện thực.

Phê phán lối sống thụ động, chấp nhận số phận, đồng thời là lời cảnh tỉnh về việc phải tự mình tìm kiếm giá trị và ý nghĩa cho cuộc đời mình.