Nguyễn Hữu Đức
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Bài làm
Trong đoạn trích "Hoa suối", nhân vật "tôi" hiện lên với vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm, giàu tình yêu thiên nhiên và lòng nhân hậu sâu sắc. Giữa bối cảnh chiến trường hay vùng cao khắc nghiệt, nhân vật không hề chai sạn đi mà trái lại, vẫn dành một khoảng lặng tâm hồn để cảm nhận vẻ đẹp tinh khôi của những bông hoa suối. Cái nhìn của "tôi" không chỉ dừng lại ở sự quan sát thị giác mà còn là sự đồng cảm, nâng niu trước sức sống mãnh liệt của cái đẹp trong gian khổ. Qua những dòng độc thoại nội tâm và cách miêu tả đầy chất thơ, ta thấy một "cái tôi" lãng mạn, lạc quan và luôn khao khát sự bình yên. Nhân vật chính là hiện diện của vẻ đẹp nhân văn: dù trong hoàn cảnh nào cũng không đánh mất khả năng rung động trước cái thiện và cái mỹ. Chính tâm hồn ấy đã biến những bông hoa vô danh thành biểu tượng của hy vọng, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho chính mình và độc giả.
Câu 2:
Bài làm
Trong hành trình trưởng thành của mỗi học sinh, thầy cô không chỉ là người truyền dạy kiến thức mà còn là những "người lái đò" đưa ra những lời khuyên, nhận xét để chúng ta hoàn thiện nhân cách. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn một bộ phận học sinh có thái độ chống đối, phản ứng tiêu cực trước những lời nhắc nhở. Vậy, đâu là cách ứng xử đúng đắn mà một học sinh cần có? Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng lời nhận xét của thầy cô – dù là khen ngợi hay phê bình – đều xuất phát từ trách nhiệm và mong muốn học trò tiến bộ. Vì vậy, thái độ đầu tiên cần có chính là sự lắng nghe và tôn trọng. Thay vì vội vàng bào chữa hay tỏ thái độ khó chịu khi bị nhắc nhở về một lỗi sai, hãy giữ bình tĩnh để tiếp nhận thông tin. Sự im lặng đúng lúc thể hiện sự trưởng thành và văn hóa ứng xử tối thiểu đối với người đi trước. Hơn nữa mỗi học sinh cần rèn luyện kỹ năng tự phản chiếu. Thay vì coi lời góp ý là sự "áp đặt" hay "trù dập", hãy coi đó là một chiếc gương soi để ta nhìn rõ những khiếm khuyết mà bản thân chưa nhận ra. Nếu lời nhận xét của thầy cô là đúng, chúng ta cần dũng cảm thừa nhận và sửa chữa. Nếu cảm thấy có sự hiểu lầm, thay vì phản ứng gay gắt, chúng ta nên lựa chọn cách đối thoại trực tiếp, chân thành vào thời điểm thích hợp để giải bày quan điểm của mình. Một lời giải thích lễ phép luôn có sức nặng hơn muôn vàn lời cãi vã. Quan trọng hơn cả là hành động cầu thị. Giá trị của một lời góp ý không nằm ở việc ta nghe xong để đấy, mà ở việc ta thay đổi ra sao sau đó. Khi chúng ta nỗ lực sửa đổi, đó là cách trả ơn ý nghĩa nhất dành cho tâm huyết của thầy cô. Việc tiếp thu góp ý một cách tích cực không làm chúng ta "thua cuộc" hay thấp kém đi, mà ngược lại, nó giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn và hoàn thiện bản thân nhanh chóng hơn. Tóm lại, cách chúng ta đối diện với những lời nhận xét chính là thước đo bản lĩnh và đạo đức của một người học trò. Hãy coi những lời góp ý của thầy cô là "liều thuốc đắng" nhưng giúp ta chữa lành những thói hư tật xấu. Chỉ khi biết lắng nghe và cầu thị, chúng ta mới có thể vững bước trên con đường chinh phục tri thức và nhân cách.Câu 1:
Ngôi kể :thứ nhất-người kể xưng "tôi".
Câu 2:
Lời dẫn trực tiếp: “Chồng nó đã về Trời, để lại nó ở đây với núi rừng.”.
Chuyển sang lời dẫn gián tiếp là: Bà cụ nói rằng chồng của nó đã qua đời, để lại nó sống nơi núi rừng.
Câu 3:
– Những đứa trẻ ở điểm trường được miêu tả:
+ Chúng dạy “tôi” tiếng địa phương.
+ Chúng thường nhầm việc đến trường thành việc được vui chơi thay vì lên nương rẫy hay bế em.
+ Chúng luôn sẵn sàng học cả ngày trong ngôi trường luôn rung lên trong gió mạnh.
+ Những đứa trẻ là người có học hành cao nhất trong nhà.
+ Đám trẻ đánh vần bi bô, dạy bố mẹ biết vài chữ cái.
– Điều đó phản ánh cuộc sống của chúng:
+ Cuộc sống thiếu thốn, nghèo khó, lạc hậu của trẻ em vùng sâu, vùng xa.
+ Khát vọng học tập của trẻ em và niềm hi vọng của gia đình dành cho chúng trong việc thay đổi cuộc sống.
Câu 4:
– Nhân vật tôi có cảm nhận đó vì:
+ Có sự hiện diện của nhiều người trong căn phòng nhỏ (cô Hà, cậu học trò nhỏ).
+ Không khí gần gũi, ấm áp giữa những con người xa lạ.
+ Sự gắn bó, quan tâm chân thành.
+ Trong hoàn cảnh cô đơn nơi vùng cao, tình người trở nên đặc biệt ý nghĩa.
Câu 5:
-Thông điệp:
+ Hoàn cảnh khó khăn, yêu thương, chia sẻ đã gắn kết con người với con người.
+ Được học tập là khao khát của biết bao trẻ em nghèo.
+ Hạnh phúc có thể đến từ những điều giản dị trong cuộc sống.
+ Biết sống cống hiến, dấn thân vì cộng đồng.
Câu 1:
Bài làm
Di tích lịch sử là những nơi lưu giữ lại dấu tích của quá khứ nó không chỉ mang lại giá trị về vật chất mà còn mang ý nghĩa tinh thần to lớn ,những câu chuyện hào hùng của dân tộc. Thế nhưng, hiện nay rất nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng do tác động của con người và môi trường. Để khắc phục tình trạng này, trước hết chúng ta cần nâng cao ý thức của mỗi người, đặc biệt là giới trẻ, trong việc giữ gìn và bảo vệ di sản bằng những việc như: không xả rác, không vẽ bậy hay làm hư hại các hiện vật. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách đầu tư hợp lí cho việc trùng tu, tôn tạo di tích một cách khoa học, giữ nguyên giá trị vốn có. Các cơ quan chức năng cũng cần tăng cường quản lí, xử lí nghiêm những hành vi vi phạm để răn đe. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn và quảng bá di tích cũng là giải pháp hiệu quả, giúp di sản đến gần hơn với mọi người. Là một học sinh, em nhận thấy bản thân cần có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn các di tích lịch sử, từ những hành động nhỏ như giữ vệ sinh chung khi tham quan, tìm hiểu và giới thiệu cho bạn bè về giá trị của di sản. Vì vậy chúng ta cần chung tay bảo vệ giữ gìn, mỗi người cần có ý thức, các di tích lịch sử sẽ luôn được bảo tồn và trường tồn cùng thời gian.
Câu 2:
Bài làm
Bài thơ “Đường vào Yên Tử" của Hoàng Quang Thuận đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa thanh tịnh, đồng thời gợi lên chiều sâu văn hóa ,tâm linh của vùng đất thiêng Yên Tử. Bài thơ được viết theo thể thơ 7 chữ, tái hiện con đường hành hương lên Yên Tử với những dấu ấn của thời gian và con người.
" Đường vào Yên Tử có khác xưa
vẹt đá mòn chân lễ hội mùa
trập trùng núi biếc cây xanh lá
Đàn bướm tung bay trong nắng vàng"
ở 4 câu thơ đầu này tác giả đã miêu tả con đường đi đến Yên Tử với những dấu ấn vừa quen thuộc vừa mới mẻ. Câu thơ "Đường vào Yên Tử có khác xưa" gợi lên sự thay đổi theo và từ đó khiến chúng ta tò mò hơn về vẻ đẹp hiện tại. Sau đó là câu "vẹt đá mòn chân lễ hội mùa" gợi lên không gian Yên Tử là một nơi thiêng liêng , nơi mà có nhiều khác đến thăm quan thể hiện được sức thu hút lâu dài của Yên Tử.Hai câu tiếp theo mở rông được khung cảnh thiên nhiên với màu xanh trập trùng của rừng núi và hình ảnh " Đàn bướm tung bay trong nắng vàng" đầy sức sống, tạo nên không gian trong trẻo , tươi tắn rộn ràng mà vẫn thanh bình.
" cây rừng phủ núi thành từng lớp
muôn vạn đài sen mây đong đưa
trông như đám khói người Dao vậy
thấp thoáng trời cao những mái chùa."
ở 4 câu cuối này , vẫn là khắc hoạ vẻ đẹp của Yên Tử nhưng có gắn với tâm linh. Hình ảnh" cây rừng phủ núi thành từng lớp" tạo nên sự bao trùm dày đặc của thiên nhiên. Ở hình ảnh "muôn vạn đài sen mây đong đưa" sử dụng yếu tố tạo sự liên tưởng độc đáo , cảm giác thơ mộng và huyền ảo. Đặc biệt , có thêm hình ảnh" trông như đám khói người Dao vậy" tác giả đã đưa đời sống nhân dân vào bức tranh thiên nhiên làm cho cảnh vật thêm gần gũi và chân thực. Kết thúc bài bằng " thấp thoáng trời cao những mái chùa." làm cho bài thơ gợi lên điểm đến linh thiêng. Hình ảnh chùa ẩn hiện giữa mây không chỉ là một hình ảnh đẹp mà còn mang ý nghĩa giá trị sâu sắc về tâm linh trong đời sống.
Bài thơ được sử dụng ngôn ngữ tinh tế giàu tính biểu cảm tạo nên không gian thơ mộng vừa thực vừa ảo , ngoài ra kết cấu thơ chặt chẽ dẫn dắt người đọc từ cảnh vật đến cảm xúc về tâm linh . Có biện pháp tu từ được sử dụng là hình ảnh ẩn dụ miêu tả sinh độnglafm nổi bật vẻ đẹp của Yên Tử và những người tu hành đến nơi đây.
"Đường vào Yên Tử" là bài thơ không chỉ ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên mà còn thể hiện ý nghĩa sâu sắc về sự giác ngộ Phật pháp. Nghệ thuật tinh tế cùng nội dung giàu cảm xúc đã làm nên ý nghĩa giá trị của tác phẩm. Bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc về một Yên Tử linh thiêng, nơi con người tìm về bình an và giác ngộ.
Câu 1:
-Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin giới thiệu về một di tích lịch sử.
Câu 2:
-Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là: Đô thị cổ Hội An.
Câu 3:
-Thông tin trong văn bản được trình bày theo: trình tự thời gian (từ thế kỷ XVI đến thế kỉ XIX).
-Phân tích: Sử dụng thời gian để cho người đọc hình dung rõ hơn về lịch sử hình thành của phố cổ Hội An.
Câu 4:
-Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là: Hình ảnh (Ảnh: Phố cổ Hội An).
-Tác dụng:
+Làm cho thông tin trở nên chính xác hơn,thuyết phục người đọc tin vào thông tin.
+Làm sáng tỏ luận đề của văn bản.
+Giúp cho văn bản trở nên sinh động,hấp dẫn với người đọc.
Câu 5:
-Mục đích của văn bản là: Giới thiệu với người đọc về lịch sử, văn hóa của Đô thị Hội An.
-Nội dung của văn bản là: Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin hữu ích và giúp người đọc có thêm kiến thức về phố cổ Hội An.