Dương Thị Kiều Trinh
Giới thiệu về bản thân
Hồ Chí Minh – hai tiếng gọi thân thương ấy từ lâu đã trở thành biểu tượng của niềm tin, lòng quả cảm và tình yêu quê hương vô bờ bến. Trong cuộc đời vĩ đại của Người, khoảnh khắc ngày 5/6/1911 tại bến cảng Nhà Rồng luôn để lại trong lòng mỗi người Việt Nam một nỗi xúc động nghẹn ngào và sự khâm phục sâu sắc.
Việc Người quyết định rời xa quê hương khi còn là chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành không đơn thuần là một cuộc hành trình cá nhân, mà là một sự dấn thân đầy định mệnh cho cả dân tộc. Giữa lúc đất nước chìm trong lầm than, các phong trào yêu nước đều bế tắc, Người đã chọn một lối đi riêng: sang phương Tây để tìm hiểu kẻ thù và tìm kiếm ánh sáng tự do.
Đọc những dòng lịch sử, ta không khỏi xót xa khi hình dung hình ảnh Người thanh niên ấy bước lên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville với hai bàn tay trắng và một ý chí sắt đá. "Tôi muốn đi ra ngoài, xem Pháp và các nước khác làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta". Lời nói ấy giản dị mà chứa đựng sức nặng của cả một non sông. Người chấp nhận làm phụ bếp, quét dọn, chịu đựng cái lạnh thấu xương của đại dương và sự khắc nghiệt của nơi xứ người để nuôi dưỡng hoài bão cứu nước.
Sự hy sinh của Người là sự hy sinh hạnh phúc cá nhân vì đại nghĩa. Rời xa gia đình, rời xa lũy tre làng và những người thân yêu, Người mang theo trong tim hình bóng quê hương để làm động lực vượt qua mọi gian khổ. Đó là một tình yêu rộng lớn, vượt lên trên tình cảm gia đình thông thường để hòa cùng nỗi đau của những người dân mất nước.
Càng tìm hiểu về hành trình ấy, ta càng thêm kính yêu Người. Bác không chỉ cho chúng ta độc lập, tự do mà còn dạy cho thế hệ trẻ bài học về lòng kiên trì và khát vọng cống hiến. Nhìn lại sự việc Người ra đi tìm đường cứu nước, mỗi chúng ta đều cảm thấy tự hào và tự hứa với lòng mình sẽ sống sao cho xứng đáng với những hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại của vị lãnh tụ kính yêu.
Hồ Chí Minh – Người là ánh sao khuê mãi sáng, là nguồn cảm hứng bất tận về lòng yêu nước và ý chí tự lực tự cường của dân tộc Việt Nam.
Chiến tranh đã qua đi những những hậu quả mà chiến tranh để lại thì vẫn còn mãi. Một trong những hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại có là sự cô đơn, bơ vơ, chờ đợi trong mòn mỏi đến vô vọng của những người phụ nữ có chồng đi chiến trận và ở lại vĩnh viễn nơi chiến trường xa xôi kia.
Dì Bảy trong bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà của nhà văn Huỳnh Như Phương chính là người phụ nữ như thế. Dì Bảy và dượng Bảy lấy nhau được chừng một tháng thì dượng phải ra miền Bắc tập kết. Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang thì đôi người đôi ngả. Dì ở nhà mong ngóng chờ đợi tin tức của chồng mình qua những dòng thư ngắn, những lời hỏi thăm, những món quà nhỏ nhờ người quen gửi hộ. Mặc dù đang ở độ tuổi xuân sắc có biết bao người hỏi tới dì, muốn mang đến cho dì một mái ấm hạnh phúc, nhưng dì nhất quyết không chấp nhận, không bao giờ lung lạc. Dì luôn chờ đợi một ngày dượng sẽ chờ về. Ngay cả khi biết rằng dượng đã không còn nữa, dì vẫn không mở lòng, dì vẫn ôm vào lòng hình bóng dượng.Không chỉ có dì Bảy còn rất nhiều người phụ nữ họ phải chịu những nỗi tổn thương sâu sắc về tinh thần, cả đời họ là sự chờ đợi, ngóng chông để rồi thất vọng và cô đơn cứ bấu víu lấy mình. Họ hi sinh tuổi thanh xuân, hạnh phúc cá nhân của mình để góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Họ chính là những người anh hùng thầm lặng, không cần cầm súng, cầm gươm, giáo chiến đấu với kẻ thù. Họ âm thầm, lặng lẽ là hậu phương vững chắc, là điểm tựa tinh thần cho những chiến sĩ ngoài chiến trường xa xôi kia.
Một lần nữa, xin hãy biết ơn những người mẹ, người vợ Việt Nam anh hùng. Họ đã dành cả tuổi xuân ngắn ngủi, ít ỏi của mình để đổi lấy bình yên, độc lập cho cả dân tộc Việt Nam ta.
Những bài thơ viết về mẹ luôn có sức lay động, truyền cảm đặc biệt. Bởi tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng đối với mỗi con người. Ai trong thẳm sâu tâm hồn, trái tim mình đều có hình bóng người mẹ kính yêu. Bài thơ “Đợi mẹ” được viết lên từ những rung cảm chân thành, xúc động của một tâm hồn luôn khát khao tình yêu thương của mẹ. Nhà thơ Vũ Quần Phương xa mẹ từ khi còn nhỏ. Có lẽ vì vậy mà khi viết về mỗi vần thơ của ông đều như chạm đến những cảm xúc sâu lắng nhất trong lòng người đọc:
Bài thơ kể cho chúng ta nghe về câu chuyện muôn thuở của trẻ thơ: đợi mẹ. Ai chẳng từng đợi mẹ đi chợ, đi làm về. Ai chẳng từng trải qua cảm giác thắc thỏm đứng ngôi mong ngóng. Em bé trong bài thơ này cũng vậy. Trời đã tối. Những dấu hiệu của nhịp sống ồn ào ban ngày đã dừng lại. Từng hoạt động của đêm lần lượt diễn ra: Vành trăng non đã lên, đom đóm đã thắp lửa ngoài ao, đom đóm đã bay vào nhà. Vậy nhưng mẹ vẫn chưa làm đồng về.
Em bé có thể nhìn thấy vầng trăng treo cao tít trên bầu trời nhưng không thể nhìn thấy mẹ. Mẹ vẫn ở ngoài cánh đồng xa. Mẹ lẫn vào cánh đồng, còn cánh đồng lại lẫn vào đêm. Hình ảnh người mẹ tần tảo, lam lũ bị lẫn, bị chìm vào trong bóng tối gợi bao niềm day dứt, ngậm ngùi. Đâu phải mẹ không mong về với con, đâu phải mẹ không biết con đang trông ngóng mẹ, nhưng vì cuộc mưu sinh, vì con, mẹ phải đi sớm về muộn. Hình ảnh của mẹ khiến ta nhớ đến hình ảnh con cò trong câu ca dao xưa: “Con cò lặn lội bờ sông.” hay: “Cái cò mà đi ăn đêm.” – thật tội nghiệp biết bao.
Mẹ chưa về nên bếp chưa lên lửa, mẹ chưa về nên cửa nhà trống trải làm sao. Bóng tối ùa về, kéo theo những nỗi sợ mơ hồ trong tâm hồn thơ trẻ. Vì thế, niềm mong mỏi bước chân mẹ càng thêm khắc khoải hơn. Em mong mẹ không phải vì “xu bánh đa vùng” hay củ khoai, tấm mía,... Em mong mẹ về với em, mẹ là ấm áp, mẹ là bình yên. Có mẹ, căn bếp kia mới trở nên ấm cúng; có mẹ, mái nhà tranh mới bớt hoang vắng, quạnh hiu.
Vậy nhưng, trong khi em bé chờ từng khắc bước chân mẹ, thì bước chân ấy vẫn “ì oạp” nơi cánh đồng xa. Từ tượng thanh “ì oạp” thật giàu sức gợi. Nó gợi lên từng bước chân khó nhọc của mẹ khi phải băng lội giữa bốn bề nước ruộng mênh mông, và lần nữa gợi lên cảm xúc nghẹn ngào nơi trái tim bạn đọc. Thơ là tiếng nói của cảm xúc. Thơ là sợi dây truyền cảm đặc biệt giữa tác giả và độc giả. Nên đọc những vần thơ trên, người đọc không khỏi rưng rưng xúc độn
“Mây và sóng” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Ta-go. Bài thơ đã gợi ra cho người đọc cảm nhận sâu sắc về tình mẫu tử thiêng liêng. Em bé trong bài thơ được mời gọi đến thế giới kỳ diệu ở “trên mây” và “trong sóng”. Với sự hiếu kỳ của một đứa trẻ, em đã cất tiếng hỏi: “Nhưng làm thế nào mình lên đó được?”, “Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?”. Nhưng khi em bé nhớ đến mẹ vẫn luôn chờ đợi mình ở nhà, em đã từng chối đầy kiên quyết: “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?”, “Làm sao có thể rời mẹ mà đi được?”. Chẳng có niềm hạnh phúc nào bằng được ở bên cạnh mẹ mặc dù thế giới ngoài kia nhiều hấp dẫn. Để rồi, em bé đã sáng tạo ra những trò chơi còn thú vị hơn của những người “trên mây” và “trong sóng”. Trong trò chơi đó, em sẽ là mây, là sóng tinh nghịch nô đùa; còn mẹ sẽ là vầng trăng, là bờ biển dịu hiền, ôm ấp và che chở con. Những câu thơ giàu tính tự sự và miêu tả nhưng lại góp phần bộc lộ cảm xúc của nhân vật trong bài thơ. Ta-go đã sử dụng trong bài thơ những lời thoại, chi tiết được kể tuần tự, vừa lặp lại vừa biến hóa kết hợp với hình ảnh giàu tính biểu tượng. Bài thơ chính là một câu chuyện cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt.
Bài thơ "Mẹ và quả" của Nguyễn Khoa Điềm là một tác phẩm vô cùng ý nghĩa. Với những hình ảnh vô cùng giản dị, thân thuộc cùng giọng điệu tha thiết, nhẹ nhàng, tác giả đã đem đến cho chúng ta những thông điệp đầy xúc động về tình mẫu tử. Nhân vật chính của tác phẩm là người mẹ - một người phụ nữ tần tảo, chịu thương chịu khó, luôn hết mình để nuôi các con khôn lớn, trưởng thành. Hình ảnh mẹ hiện lên gắn liền với "những mùa quả" nối tiếp nhau, cứ "lặn" rồi lại "mọc" như Mặt Trăng, Mặt Trời. Điều đó khiến ta liên tưởng tới sự chảy trôi vô tận, phũ phàng của thời gian. Nó khiến cho những đứa con "lớn lên", những quả bầu, quả bí "lớn xuống", đồng thời cũng phủ một lớp sương trắng xóa lên mái tóc mẹ. Bờ vai mẹ đã gồng gánh cả một gia đình suốt bao năm qua, nhưng bà không cần bất cứ điều gì cho riêng bản thân mình. Ước mong lớn lao nhất của mẹ "Bảy mươi tuổi đợi chờ được hái" chính là sự khôn lớn, trưởng thành của các con. Nhắc đến đây, nội tâm nhân vật trữ tình bắt đầu hoảng sợ thời gian sẽ cướp đi đấng sinh thành, hoảng hốt vì không biết liệu đến khi "bàn tay mẹ mỏi" thì mình đã "chín" chưa hay vẫn chỉ là "một thứ quả non xanh". Với bổn phận và tấm lòng biết ơn, chủ thể trữ tình luôn mong muốn được báo đáp người mẹ đáng kính. Chắc chắn, ai trong chúng ta cũng đều có thể đồng cảm và thấu hiểu cho cảm xúc đó. Tình cảm dạt dào, sự hi sinh cao cả mà không cần hồi đáp của người mẹ đã khiến độc giả vô cùng xúc động. Qua đây, ta lại càng cảm nhận được sự thiêng liêng của tình mẫu tử, thêm biết ơn về những gì mà gia đình đem đến.
Thạch Sanh, nhân vật anh hùng trong câu chuyện cổ tích, để lại dấu ấn sâu sắc trong trái tim độc giả. Chàng dũng sĩ đã vượt qua mọi thách thức, trải qua nhiều khó khăn để đạt được hạnh phúc.
Thạch Sanh, con của Ngọc Hoàng, sinh ra trong hoàn cảnh đặc biệt. Mặc dù cha mẹ chàng là lao động nghèo, nhưng chàng mang trong mình sức mạnh phi thường và được các thiên thần dạy võ nghệ. Điều này tạo nên sự kết hợp độc đáo giữa bình thường và phi thường trong cuộc sống của Thạch Sanh.
Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, Thạch Sanh sống đơn độc dưới gốc đa, làm công việc đốn củi để kiếm sống. Chàng là biểu tượng của trẻ mồ côi, nhưng đồng thời lại là thái tử xuống trần gian. Những thử thách mà Thạch Sanh phải đối mặt như bị lừa dối bởi mẹ con Lý Thông, cứu công chúa, hay bị đối xử bất công, đều là những khắc nghiệt khó khăn. Tuy nhiên, chàng vẫn giữ vững lòng nhân đạo, lòng yêu chuộng hòa bình. Những hành động của Thạch Sanh không chỉ phản ánh phẩm chất tốt đẹp, mà còn là biểu tượng của sự quả cảm, tài năng, và lòng yêu thương đối với xã hội.
Xây dựng nhân vật Thạch Sanh, tác giả đã tạo nên một câu chuyện hấp dẫn, kịch tính, và đậm chất truyền thống. Thạch Sanh không chỉ là biểu tượng của lòng nhân đạo mà còn là nguồn cảm hứng cho mọi thế hệ, là điển hình của những phẩm chất tốt đẹp trong con người Việt Nam.
Thạch Sanh, nhân vật anh hùng trong câu chuyện cổ tích, để lại dấu ấn sâu sắc trong trái tim độc giả. Chàng dũng sĩ đã vượt qua mọi thách thức, trải qua nhiều khó khăn để đạt được hạnh phúc.
Thạch Sanh, con của Ngọc Hoàng, sinh ra trong hoàn cảnh đặc biệt. Mặc dù cha mẹ chàng là lao động nghèo, nhưng chàng mang trong mình sức mạnh phi thường và được các thiên thần dạy võ nghệ. Điều này tạo nên sự kết hợp độc đáo giữa bình thường và phi thường trong cuộc sống của Thạch Sanh.
Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, Thạch Sanh sống đơn độc dưới gốc đa, làm công việc đốn củi để kiếm sống. Chàng là biểu tượng của trẻ mồ côi, nhưng đồng thời lại là thái tử xuống trần gian. Những thử thách mà Thạch Sanh phải đối mặt như bị lừa dối bởi mẹ con Lý Thông, cứu công chúa, hay bị đối xử bất công, đều là những khắc nghiệt khó khăn. Tuy nhiên, chàng vẫn giữ vững lòng nhân đạo, lòng yêu chuộng hòa bình. Những hành động của Thạch Sanh không chỉ phản ánh phẩm chất tốt đẹp, mà còn là biểu tượng của sự quả cảm, tài năng, và lòng yêu thương đối với xã hội.
Xây dựng nhân vật Thạch Sanh, tác giả đã tạo nên một câu chuyện hấp dẫn, kịch tính, và đậm chất truyền thống. Thạch Sanh không chỉ là biểu tượng của lòng nhân đạo mà còn là nguồn cảm hứng cho mọi thế hệ, là điển hình của những phẩm chất tốt đẹp trong con người Việt Nam.