Mẫn Bá Tuấn Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Mẫn Bá Tuấn Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Câu 1:

 Bài thơ “Mùa về” của Phạm Xuân Am gợi lên trong em niềm xúc động và tự hào về vẻ đẹp của quê hương và sự gắn bó sâu sắc với truyền thống lao động. Những hình ảnh quen thuộc và chân thực như “sàng rơm, sảy thóc”, “liềm hái ra đồng”, “giòn tan cối vỗ” khắc họa sống động không khí lao động hăng say và ấm áp ở làng quê. Em cảm nhận được tình yêu lao động của người dân và sự thanh bình, giản dị của cuộc sống, từ đó thêm yêu quý mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên. 

Câu 2.

Tết Trung thu ở quê tôi, không khí luôn náo nhiệt, tràn ngập niềm vui và tiếng cười, nhất là với lũ trẻ chúng tôi. Ngay từ chiều, cả xóm đã rộn ràng chuẩn bị cho đêm hội. Những chiếc đèn ông sao, đèn kéo quân đủ màu sắc được trang hoàng khắp các ngõ xóm, con đường. Ánh đèn lồng lung linh soi sáng con đường làng, cùng với tiếng trống vang vọng từ xa, báo hiệu đêm hội sắp bắt đầu. Khi màn đêm buông xuống, xóm làng trở nên lung linh huyền ảo hơn bao giờ hết. Cả xóm tụ tập tại khoảng sân đình, nơi diễn ra đêm hội Trung thu. Bác Trưởng xóm, với nụ cười hiền hậu, cùng với những người lớn tuổi, đã chuẩn bị mâm cỗ Trung thu thịnh soạn. Mâm cỗ có đủ các loại bánh nướng, bánh dẻo thơm lừng, bưởi da xanh căng tròn, cùng những chú tò he được nặn tỉ mỉ, ngộ nghĩnh. Đặc biệt nhất là tiết mục múa lân của đội múa lân đến từ xóm bên. Tiếng trống "thình thịch" vang lên, tiếng chiêng "ting tang" hòa theo điệu nhạc, lân vàng, lân đỏ uyển chuyển theo điệu nhạc, những pha nhào lộn, tung hứng đầy khéo léo và dũng cảm khiến mọi người, nhất là trẻ nhỏ, vỗ tay không ngớt. Sau màn múa lân, chúng tôi được thỏa sức với những chiếc đèn kéo quân, đèn ông sao. Chúng tôi cùng nhau rước đèn vòng quanh xóm, hát vang bài hát "Rước đèn tháng Mười". Tiếng hát vang vọng khắp không gian, hòa quyện với tiếng cười nói rộn rã của mọi người, tạo nên một không khí đêm Trung thu thật vui vẻ và ấm áp. Kết thúc đêm hội, chúng tôi quây quần bên mâm cỗ, cùng nhau trò chuyện và thưởng thức những món ngon truyền thống. Dưới ánh trăng sáng vằng vặc, em cảm thấy thật may mắn khi được sống trong một không khí Trung thu ấm áp, vui tươi và tràn ngập tình thân ở quê hương.


Câu 1. (2,0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):

− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.

− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng − phân − hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Nêu cảm nhận về bài thơ "Mùa về" của Phạm Xuân Am.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):

Gợi ý:

– Cảm nhận về đặc sắc nội dung của bài thơ:

+ Không khí mùa gặt tưng bừng, nhộn nhịp và tràn đầy sức sống:

++ Cảnh làng quê hiện lên sinh động qua những hoạt động: Sàng rơm, sảy thóc, "lúa còn nện cối",...

++ Sự khẩn trương, hăng say của những người nông dân: "Tinh mơ liềm hái ra đồng", "Vội vàng giấc ngủ, bữa ăn",...

++ Hình ảnh lúa vàng trĩu bông: "Bồng cây lúa đứng, ôm bông lúa vàng".

=> Học sinh nêu cảm xúc: Cảm nhận được sự cần mẫn, hăng say lao động và nhịp sống rất riêng của làng quê; ngưỡng mộ tinh thần làm việc của người nông dân.

+ Sự vất vả, khó khăn và tinh thần kiên cường của người nông dân:

++ Thiên nhiên khắc nghiệt, tạo ra những thử thách lớn: "Mưa rào trút giữa tháng năm", "Sân trôi thóc nổi, áo đầm mồ hôi". Những hình ảnh gợi tả sự khó khăn, vất vả của người nông dân.

++ Tinh thần chịu thương, chịu khó và cũng rất mạnh mẽ, kiên cường: "Hai tay dưỡng đất, nuôi trời", "Đôi vai gánh cả mảnh trời bão giông". Những người nông dân có tinh thần bền bỉ, không lùi bước trước khó khăn.

=> Học sinh nêu cảm xúc: Cảm nhận sâu sắc về sự vất vả, gian truân mà người nông dân phải trải qua; cảm thấy trân trọng, cảm phục trước sức chịu đựng, tinh thần lạc quan và không ngại khó của họ.

+ Niềm vui, hạnh phúc giản dị khi mùa gặt bội thu:

++ Thành quả lao động được đền đáp: Giấc ngủ ngon hơn vì mùa gặt no ấm, "Thêm vàng hạt lúa, thêm xanh giấc nồng".

++ Niềm vui lễ hội sau mùa màng bội thu chính là phần thưởng xứng đáng, "Giêng, Hai,... đón hội, vui rằm bõ công".

=> Học sinh nêu cảm xúc: Cảm nhận được niềm hạnh phúc giản dị mà lớn lao của những người nông dân khi thành quả lao động được đền đáp; cảm thấy ấm áp, yên bình và hiểu được rằng dù cuộc sống còn nhiều nhọc nhằn nhưng chính những thành quả lao động đã mang lại niềm vui, sự no ấm và động lực.

Câu 2. (4,0 điểm)

a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):

Xác định đúng kiểu bài: Bài văn miêu tả.

b. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm):

Xác định đúng yêu cầu của đề: Tả cảnh ngày tết Trung thu ở quê em.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn miêu tả:

* Mở bài: Giới thiệu khái quát cảnh sinh hoạt mà em định tả.

* Thân bài:

– Tả bao quát khung cảnh và ấn tượng chung về cảnh sinh hoạt.

– Tả cụ thể cảnh sinh hoạt theo trình tự thời gian; hoạt động cụ thể của những người tham gia.

– Thể hiện cảm xúc khi quan sát, chứng kiến hoặc tham gia cảnh sinh hoạt đó.

* Kết bài: Nêu suy nghĩ, đánh giá và cảm xúc của bản thân về cảnh sinh hoạt.


Câu 1. (0,5 điểm)

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu cảm.

Câu 2. (0,5 điểm)

Những hoạt động của người nông dân trong ngày mùa được nhắc đến trong văn bản: (Học sinh chỉ cần đưa ra ba hoạt động)

− Nện cối.

− Sàng rơm.

− Sảy thóc.

− Gặt lúa.

− Trút thóc phơi sân.

− Gánh lúa.

Câu 3. (1,0 điểm)

Những dòng thơ "Hai tay dưỡng đất, nuôi trời / Đôi vai gánh cả mảng trời bão giông" gợi cho em cảm nhận sâu sắc về người nông dân:

− Vị thế và vai trò quan trọng của người nông dân: Họ là người "dưỡng đất, nuôi trời", tạo ra lương thực, làm nên sự sống, sự no ấm.

− Sức chịu đựng và sự kiên cường: Hình ảnh ẩn dụ "Đôi vai gánh cả mảng trời bão giông" cho thấy người nông dân phải đối mặt với bao khó khăn, thử thách từ thiên nhiên và gánh nặng cuộc sống. Họ là những con người bền bỉ, mạnh mẽ, không khuất phục trước gian khổ.

− Sự vất vả và hi sinh thầm lặng: Đằng sau những hạt lúa vàng là mồ hôi, nước mắt và cả sức lực phi thường của những người lao động chân lấm tay bùn.

Câu 4. (1,0 điểm)

Trong dòng thơ "Thêm vàng hạt lúa, thêm xanh giấc nồng", tác giả sử dụng biện pháp tu từ điệp từ và ẩn dụ: (Học sinh chỉ cần xác định và chỉ ra tác dụng của một biện pháp tu từ)

* Biện pháp tu từ điệp từ

− Từ "thêm" được lặp lại hai lần trong dòng thơ.

− Tác dụng của biện pháp tu từ điệp từ:

+ Tạo nhịp điệu êm ái và cân đối cho dòng thơ.

+ Nhấn mạnh về sự tăng tiến, phát triển; thành quả lao động càng nhiều thì người nông dân càng hạnh phúc.

* Biên pháp tu từ ẩn dụ:

− Hình ảnh ẩn dụ:

+ "Vàng hạt lúa": Hình ảnh ẩn dụ cho thành quả lao động, sự no đủ, ấm no.

+ "Xanh giấc nồng": Ẩn dụ cho niềm vui, giấc ngủ yên bình, hạnh phúc của con người.

− Tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ:

+ Nhấn mạnh niềm vui của người nông dân khi thấy thành quả lao động của mình ngày càng lớn, không chỉ mang lại sự no ấm về vật chất mà còn cả sự bình yên, hạnh phúc về tinh thần.

+ Biến những khái niệm trừu tượng (niềm hạnh phúc, sự bình yên) thành những hình ảnh cụ thể, có màu sắc, có sức sống, chạm đến trái tim người đọc.

Câu 5. (1,0 điểm)

Học sinh trình bày bài học mà bản thân có thể rút ra từ tinh thần "Nhọc nhằn không mỏi, mỏi mong mùa về" của người nông dân. Gợi ý:

− Bài học về sự kiên trì, bền bỉ và tinh thần lạc quan.

− Phải luôn cố gắng, không ngừng nỗ lực rèn luyện bản thân khi gặp phải khó khăn, thử thách.

− Luôn giữ vững niềm tin, hi vọng vào mục tiêu của bản thân.

Câu 1. (2,0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):

− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.

− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng − phân − hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Nêu cảm nhận về bài thơ "Ảnh Bác" của Trần Đăng Khoa.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):

Gợi ý:

− Hình ảnh Bác Hồ trong bức ảnh:

+ Bức ảnh Bác được treo dưới một lá cờ đỏ tươi, gợi không khí thiêng liêng, thể hiện niềm tự hào của cả gia đình.

+ Hình ảnh "Bác mỉm miệng cười" xuất hiện nhiều lần, gợi nụ cười hiền hậu, bao dung, chứa chan tình yêu thương.

+ Dưới ánh nhìn trẻ thơ, Bác như đang hiện diện trong ngôi nhà nhỏ, dõi theo từng việc làm, từng niềm vui của bạn nhỏ.

=> Học sinh nêu cảm xúc: Xúc động và kính yêu trước hình ảnh Bác Hồ hiền từ, gần gũi như người thân trong gia đình; cảm nhận được tình cảm ấm áp, thiêng liêng mà Bác dành cho thiếu nhi.

− Suy nghĩ, cảm xúc và tình cảm của bạn nhỏ:

+ Cảm nhận được sự ân cần, dịu dàng của Bác: "Em nghe như Bác dạy lời / Cháu ơi đừng có chơi bời đâu xa".

+ Cảm thấy xúc động và biết ơn sâu sắc đối với Bác, dù "Bác lo bao việc trên đời" thì em vẫn cảm thấy được Bác dõi theo, dặn dò từng việc nhỏ.

+ Cảm thấy ấm áp, gần gũi như có Bác trong nhà, Bác không chỉ ở trong bức ảnh mà còn trong trái tim mỗi người.

+ Cảm thấy tự hào và có trách nhiệm, muốn sống tốt hơn, chăm học chăm làm, nghe lời cha mẹ, góp phần nhỏ bé xứng đáng với tình yêu thương của Bác.

=> Học sinh nêu cảm xúc: Bài thơ khơi dậy lòng kính trọng, biết ơn và niềm tin yêu tha thiết dành cho vị Cha già của dân tộc, người đã hi sinh trọn đời cho hạnh phúc của nhân dân và tương lai của thiếu nhi. Qua những vần thơ hồn nhiên mà chân thành, tình cảm thiêng liêng với Bác trở nên gần gũi, trong sáng, nuôi dưỡng trong mỗi học sinh niềm tự hào, ý thức học tập và rèn luyện để xứng đáng với tình yêu thương bao la của Người.

Câu 2. (4,0 điểm)

a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):

Xác định đúng kiểu bài: Bài văn tự sự.

b. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm):

Xác định đúng yêu cầu của đề: Kể lại một kỉ niệm sâu sắc của em với bạn bè.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn tự sự:

* Mở bài:

– Giới thiệu về kỉ niệm em định kể.

– Nêu khái quát ấn tượng và cảm xúc của em về kỉ niệm đó.

* Thân bài: Kể lại chi tiết, cụ thể về kỉ niệm đó bằng cách làm rõ những nội dung sau:

– Nêu địa điểm và thời gian xảy ra câu chuyện, các nhân vật liên quan.

– Kể lại chi tiết, cụ thể diễn biến câu chuyện.

– Nêu ấn tượng, cảm xúc và suy nghĩ của em về kỉ niệm đó.

* Kết bài:

– Nêu cảm nghĩ và bài học của em về kỉ niệm đó.

– Nói lên mong muốn của bản thân từ kỉ niệm ấy.

Câu 1. (2,0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):

− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.

− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng − phân − hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Nêu cảm nhận về bài thơ "Ảnh Bác" của Trần Đăng Khoa.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):

Gợi ý:

− Hình ảnh Bác Hồ trong bức ảnh:

+ Bức ảnh Bác được treo dưới một lá cờ đỏ tươi, gợi không khí thiêng liêng, thể hiện niềm tự hào của cả gia đình.

+ Hình ảnh "Bác mỉm miệng cười" xuất hiện nhiều lần, gợi nụ cười hiền hậu, bao dung, chứa chan tình yêu thương.

+ Dưới ánh nhìn trẻ thơ, Bác như đang hiện diện trong ngôi nhà nhỏ, dõi theo từng việc làm, từng niềm vui của bạn nhỏ.

=> Học sinh nêu cảm xúc: Xúc động và kính yêu trước hình ảnh Bác Hồ hiền từ, gần gũi như người thân trong gia đình; cảm nhận được tình cảm ấm áp, thiêng liêng mà Bác dành cho thiếu nhi.

− Suy nghĩ, cảm xúc và tình cảm của bạn nhỏ:

+ Cảm nhận được sự ân cần, dịu dàng của Bác: "Em nghe như Bác dạy lời / Cháu ơi đừng có chơi bời đâu xa".

+ Cảm thấy xúc động và biết ơn sâu sắc đối với Bác, dù "Bác lo bao việc trên đời" thì em vẫn cảm thấy được Bác dõi theo, dặn dò từng việc nhỏ.

+ Cảm thấy ấm áp, gần gũi như có Bác trong nhà, Bác không chỉ ở trong bức ảnh mà còn trong trái tim mỗi người.

+ Cảm thấy tự hào và có trách nhiệm, muốn sống tốt hơn, chăm học chăm làm, nghe lời cha mẹ, góp phần nhỏ bé xứng đáng với tình yêu thương của Bác.

=> Học sinh nêu cảm xúc: Bài thơ khơi dậy lòng kính trọng, biết ơn và niềm tin yêu tha thiết dành cho vị Cha già của dân tộc, người đã hi sinh trọn đời cho hạnh phúc của nhân dân và tương lai của thiếu nhi. Qua những vần thơ hồn nhiên mà chân thành, tình cảm thiêng liêng với Bác trở nên gần gũi, trong sáng, nuôi dưỡng trong mỗi học sinh niềm tự hào, ý thức học tập và rèn luyện để xứng đáng với tình yêu thương bao la của Người.

Câu 2. (4,0 điểm)

a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):

Xác định đúng kiểu bài: Bài văn tự sự.

b. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm):

Xác định đúng yêu cầu của đề: Kể lại một kỉ niệm sâu sắc của em với bạn bè.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn tự sự:

* Mở bài:

– Giới thiệu về kỉ niệm em định kể.

– Nêu khái quát ấn tượng và cảm xúc của em về kỉ niệm đó.

* Thân bài: Kể lại chi tiết, cụ thể về kỉ niệm đó bằng cách làm rõ những nội dung sau:

– Nêu địa điểm và thời gian xảy ra câu chuyện, các nhân vật liên quan.

– Kể lại chi tiết, cụ thể diễn biến câu chuyện.

– Nêu ấn tượng, cảm xúc và suy nghĩ của em về kỉ niệm đó.

* Kết bài:

– Nêu cảm nghĩ và bài học của em về kỉ niệm đó.

– Nói lên mong muốn của bản thân từ kỉ niệm ấy.

Câu 1. (2,0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):

− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.

− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng − phân − hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Nêu cảm nhận về bài thơ "Ảnh Bác" của Trần Đăng Khoa.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):

Gợi ý:

− Hình ảnh Bác Hồ trong bức ảnh:

+ Bức ảnh Bác được treo dưới một lá cờ đỏ tươi, gợi không khí thiêng liêng, thể hiện niềm tự hào của cả gia đình.

+ Hình ảnh "Bác mỉm miệng cười" xuất hiện nhiều lần, gợi nụ cười hiền hậu, bao dung, chứa chan tình yêu thương.

+ Dưới ánh nhìn trẻ thơ, Bác như đang hiện diện trong ngôi nhà nhỏ, dõi theo từng việc làm, từng niềm vui của bạn nhỏ.

=> Học sinh nêu cảm xúc: Xúc động và kính yêu trước hình ảnh Bác Hồ hiền từ, gần gũi như người thân trong gia đình; cảm nhận được tình cảm ấm áp, thiêng liêng mà Bác dành cho thiếu nhi.

− Suy nghĩ, cảm xúc và tình cảm của bạn nhỏ:

+ Cảm nhận được sự ân cần, dịu dàng của Bác: "Em nghe như Bác dạy lời / Cháu ơi đừng có chơi bời đâu xa".

+ Cảm thấy xúc động và biết ơn sâu sắc đối với Bác, dù "Bác lo bao việc trên đời" thì em vẫn cảm thấy được Bác dõi theo, dặn dò từng việc nhỏ.

+ Cảm thấy ấm áp, gần gũi như có Bác trong nhà, Bác không chỉ ở trong bức ảnh mà còn trong trái tim mỗi người.

+ Cảm thấy tự hào và có trách nhiệm, muốn sống tốt hơn, chăm học chăm làm, nghe lời cha mẹ, góp phần nhỏ bé xứng đáng với tình yêu thương của Bác.

=> Học sinh nêu cảm xúc: Bài thơ khơi dậy lòng kính trọng, biết ơn và niềm tin yêu tha thiết dành cho vị Cha già của dân tộc, người đã hi sinh trọn đời cho hạnh phúc của nhân dân và tương lai của thiếu nhi. Qua những vần thơ hồn nhiên mà chân thành, tình cảm thiêng liêng với Bác trở nên gần gũi, trong sáng, nuôi dưỡng trong mỗi học sinh niềm tự hào, ý thức học tập và rèn luyện để xứng đáng với tình yêu thương bao la của Người.

Câu 2. (4,0 điểm)

a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):

Xác định đúng kiểu bài: Bài văn tự sự.

b. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm):

Xác định đúng yêu cầu của đề: Kể lại một kỉ niệm sâu sắc của em với bạn bè.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn tự sự:

* Mở bài:

– Giới thiệu về kỉ niệm em định kể.

– Nêu khái quát ấn tượng và cảm xúc của em về kỉ niệm đó.

* Thân bài: Kể lại chi tiết, cụ thể về kỉ niệm đó bằng cách làm rõ những nội dung sau:

– Nêu địa điểm và thời gian xảy ra câu chuyện, các nhân vật liên quan.

– Kể lại chi tiết, cụ thể diễn biến câu chuyện.

– Nêu ấn tượng, cảm xúc và suy nghĩ của em về kỉ niệm đó.

* Kết bài:

– Nêu cảm nghĩ và bài học của em về kỉ niệm đó.

– Nói lên mong muốn của bản thân từ kỉ niệm ấy.

Câu 1. (0,5 điểm)

Văn bản "Chơi Phú Quốc" thuộc kiểu văn bản du kí.

Câu 2. (0,5 điểm)

Khi đặt chân đến bãi biển Hàm Ninh, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước biển là "nước trong như nước lọc, thấy tận đáy, những con chang chang sứa biển ngo ngoe đang bò, chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thuỷ tinh.".

Câu 3. (1,0 điểm)

− Văn bản "Chơi Phú Quốc" sử dụng ngôi kể thứ nhất số nhiều, người kể chuyện xưng "chúng tôi".

− Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể thứ nhất:

+ Giúp người đọc cảm nhận được câu chuyện một cách chân thực, gần gũi như đang cùng tác giả trải nghiệm.

+ Thể hiện trực tiếp cảm xúc, suy nghĩ của nhóm người trải nghiệm, làm cho bài viết trở nên sinh động và có hồn hơn.

Câu 4. (1,0 điểm)

− Những hoạt động của người dân Phú Quốc được nhắc đến trong văn bản:

+ Đánh cá.

+ Phơi lưới.

+ Đi "thẻ" mực vào ban đêm.

+ Vá lưới, chuốt mây vào buổi tối.

+ Hái trái sim.

− Cuộc sống của những người dân Phú Quốc:

+ Cuộc sống của người dân Phú Quốc gắn liền với biển cả và thiên nhiên, họ làm việc chăm chỉ, cần cù từ sáng đến đêm khuya cả những công việc nặng nhọc lẫn nhẹ nhàng.

+ Người dân vẫn tìm thấy niềm vui, sự sung sướng, ung dung, an vui trong công việc và cuộc sống của mình.

Câu 5. (1,0 điểm)

Học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của việc trải nghiệm, khám phá những vùng đất mới. Gợi ý:

− Trải nghiệm giúp ta mở mang tầm mắt, hiểu biết thêm nhiều cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước.

− Khám phá vùng đất mới đem lại những cảm xúc mới mẻ, hứng khởi và niềm vui trong cuộc sống.

− Hành trình trải nghiệm giúp ta thêm trân trọng vẻ đẹp quê hương, đất nước và con người lao động.

− Những hành trình trải nghiệm là cơ hội để rèn luyện sự quan sát, cảm nhận, bồi dưỡng tâm hồn và tình yêu cuộc sống.


Tắt tivi khi không sử dụng. 

- Tắt đèn học khi học xong. 

- Hạn chế đóng, mở tủ lạnh. 

- Sử dụng điều hòa ở nhiệt độ phù hợp.

- Sử dụng đèn LED thay cho đèn sợi đốt.


a. Nhà của cô T thuộc kiến trúc nhà chung cư.

b. Các vật liệu xây dựng tương ứng với từng thành phần cấu tạo của kiến trúc nhà chung cư:

+ Tường: Thường được xây bằng bê tông hoặc gạch.

+ Mái: Thường làm bằng bê tông cốt thép.

+ Cửa sổ và cửa ra vào: Thường làm bằng nhôm kính hoặc gỗ.

+ Sàn nhà: Thường lát gạch men hoặc gỗ công nghiệp.


Bài làm

Trong các kỉ niệm thời tiểu học, năm lớp 5 đáng nhớ nhất với tôi là trận bóng đá cuối cùng của mùa giải.

Chúng tôi, đội “Siêu Quậy”, đối đầu với đội “Bách Chiến Bách Thắng” của lớp bên. Đó là một buổi chiều nắng rực rỡ, sân trường vang dội tiếng reo hò. Hai đội giằng co quyết liệt, tỉ số hòa 1-1 cho đến gần cuối trận. Chỉ còn vài phút nữa thôi, đội trưởng Tuấn “Đô” tung một cú sút mạnh. Cả đội tôi nín thở, nhưng bóng lại đi chệch khung thành trong gang tấc. Không nản chí, chúng tôi tiếp tục chiến đấu. Khoảnh khắc cuối cùng, tôi nhận được đường chuyền từ Tuấn, dốc bóng qua hai hậu vệ đối phương rồi sút một cú quyết định. Bóng bay thẳng vào lưới trong sự vỡ òa của toàn đội. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, hò reo vang cả sân trường.

Dù chỉ là một trận bóng đá nhỏ, nhưng nó đã dạy tôi bài học lớn về tinh thần đồng đội và không bao giờ bỏ cuộc. Hình ảnh chúng tôi cùng nhau đổ mồ hôi và ăn mừng chiến thắng sẽ mãi là kỉ niệm đẹp nhất của tuổi học trò.