Huỳnh Minh Phúc
Giới thiệu về bản thân
a) A = (x2 - 2x + 1)/(x2 - 1)
A = (x - 1)2/(x - 1) (x + 1)
A = (x - 1)/(x + 1)
b) Thay x = 3 vào biểu thức A ta có:
A = (3 - 1)/(3 + 1)
A = 2/4 = 1/2
Tương tự thay x = -3/2 vào biểu thức A ta có:
A = (-3/2 - 1)/(-3/2 + 1)
= (-5/2)/(-1/2)
= 5
c) Ta có A = (x + 1 - 2)/(x + 1)
A = 1 + (-2)/(x + 1)
Suy ra -2 chia hết cho x + 1
UC (-2) = {1; -1; 2; -2}
Suy ra x + 1 = 1 ; x + 1 = -1 ; x + 1 = 2; x + 1 = -2
Suy ra x = 0
x = -2
x = 1
x = -3
a) 7x + 2 = 0
7x = -2
x = -2/7
b) 18 - 5x = 7 + 3x
-3x - 5x = 7 - 18 = -11
-8x = -11
x = 11/8
1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
2.
Truyện đã mang đến những thông điệp:
+ Không nên chê bai, phán xét ngoại hình của người khác
+ Biết yêu thương chính bản thân mình, trân trọng vẻ đẹp của mình.
+ Biết cách cư xử, sử dụng lời nói sao cho hay, đúng hoàn cảnh, thể hiện sự tôn trọng với người khác.
Em đồng tình điều đó vì mọi người sinh ra ai cũng mong muốn mình có ngoại hình xinh đẹp, ưa nhìn, và bậc phụ huynh nào cũng mong muốn con mình có ngoại hình đẹp, không ai muốn mình xấu xí. Vì vậy, không nên cười cợt hay phán xét ngoại hình của người khác.
Trong các hoạt động xã hội mà em đã tham gia, chuyến đi tham quan đến Bình Định trong năm vừa qua - quê hương của người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ đã để lại cho em nhiều kỷ niệm sâu sắc và ý nghĩa
Ngay từ sáng sớm, xe đã đưa chúng em đến Bảo tàng Quang Trung. Không khí trong lành và cảnh vật bình yên khiến ai cũng thấy háo hức. Khi đi đến cổng, em nhìn thấy tượng đài Quang Trung oai nghiêm đứng giữa sân, xung quanh là những hàng cây xanh tươi rợp bóng xếp hàng ngay ngắn. Cảm giác như đang đứng trước một trang sử sống.
Trong bảo tàng, chúng em được cô hướng dẫn viên giới thiệu về 3 anh em nhà Tây Sơn và những chiến công hiển hách của họ. Em chăm chú quan sát từng hiện vật: gươm, áo giáp, trống, những mô hình mô phỏng trận đánh lớn. Mọi thứ đều khiến em tưởng tượng ra cảnh quân Tây Sơn hành quân thần tốc trong chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử.
Sau đó chúng em đến giếng nước xưa của nhà Tây Sơn và cây me cổ thụ hơn 300 tuổi. Thầy giáo kể rằng cây me này đã chứng kiến bao đổi thay của vùng đất anh hùng, khiến em càng thêm khâm phục và tự hào. Tiếp theo, đoàn được xem biểu diễn trống trận Tây Sơn. Tiếng trống dồn dập, mạnh mẽ vang lên như thôi thúc tinh thần yêu nước trong mỗi chúng em.
Chuyến đi tham quan lần này không chỉ giúp chúng em mở rộng thêm về kiến thức lịch sử mà còn là dịp để chúng em bày tỏ lòng biết ơn đối với các vị anh hùng dân tộc. Đây là hoạt động xã hội thật sự ý nghĩa vì giúp thế hệ trẻ hiểu được và trân trọng giá trị truyền thống quê hương.
Kết thúc chuyến đi, em mang về nhiều kỷ niệm đẹp đẽ và cảm thấy tự hào vì đã đặt chân đến mảnh đất Tây Sơn hào hùng. Em mong rằng mình sẽ còn được tham gia nhiều hoạt động xã hội bổ ích như thế này trong tương lai.
- Quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn của chúng ta, là nơi nuôi ta khôn lớn với biết bao kỉ niệm.
- Quê hương là nơi dạy ta từ nhỏ với những ngày ngây thơ, vụng dại từ bé. Quê hương cho ta những năm tháng tuổi thơ tuyệt vời.
- Quê hương là nơi có cha mẹ, ông bà, tổ tiên, anh chị em, ... có tình thân luôn yêu thương, gắn bó.
Đảo ngữ: làm nổi bật sự bao la của vùng đất xa lạ
Phép đối:
+ Ngàn mai - Dặm liễu
+ Gió cuốn - sương sa
+ Chim bay mỏi - khách bước dồn.
- Tác dụng:
+ Tăng tính gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt; tạo nhịp điệu và thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình
+ Gợi tả không gian rộng lớn, bao la và vùng đất xa lạ mà tác giả phải đi qua.
+ Gợi tả sự cô đơn của thi sĩ và nỗi buồn sâu sắc khi xa quê hương.
Trong nền văn học hiện thực Việt Nam, Nguyễn Công Hoan là nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm phản ánh sâu sắc cuộc sống của người lao động nghèo. Truyện ngắn bà lái đò đã khắc họa hình ảnh một người phụ nữ chèo đò lam lũ, qua đó thể hiện sự cảm thông của tác giả đối với những người nhỏ bé trong xã hội cũ.
Trước hết, truyện ngắn đã thành công trong việc xây dựng hình tượng bà lái đò - một người phụ nữ nghèo khổ, phải vất vả mưu sinh trên dòng sông. Công việc chèo đò tưởng chừng đơn giản nhưng thực chất rất nặng nhọc: ngày ngày bà phải chống chọi với dòng nước, gió mưa và sự thất thường của thời tiết. Cuộc sống của bà gắn liền với con đò nhỏ và bến sông quen thuộc. Qua những chi tiết miêu tả giản dị nhưng chân thực, tác giả đã cho thấy cuộc đời lao động cơ cực của người phụ nữ nghèo: họ phải làm việc quần quật chỉ để kiếm chút tiền ít ỏi nuôi sống bản thân và gia đình. Hình ảnh bà lái đò vì thế trở thành biểu tượng cho lớp người lao động bình dân trong xã hội cũ.
Bên cạnh sự lam lũ, nhân vật lái đò hiện lên những phẩm chất đáng quý. Bà là người cần cù, nhẫn nại, chịu thương chịu khó. Dù cuộc sống khó khăn, bà vẫn lặng lẽ làm việc, không than vãn hay oán trách số phận. Trong cách cư xử với khách qua đường, bà cũng thể hiện sự hiền lành, chất phác của người nông dân. Những phẩm chất ấy khiến hình tượng của bà lái đò trở nên giàu gợi cảm và gần gũi, giúp người đọc cảm nhận rõ về vẻ đẹp bình dị của người nông dân Việt Nam.
Tuyên nhiên, đằng sau bức tranh ấy là một hiện thực xã hội đầy bất công. Thông qua câu chuyện về bà lái đò, Nguyễn Công Hoan đã phản ánh sự nghèo khổ của những người dân thấp cổ nhỏ bé trước Cách mạng tháng Tám. Họ phải làm việc cực nhọc nhưng vẫn sống trong cảnh thiếu thốn, không có cơ hội thay đổi cuộc đời. Sự vất vả của bà lái đò không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là số phận chung của biết bao người lao động nghèo thời bấy giờ.
"Lão Hạc" là truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Nam Cao, viết về cuộc sống nghèo khổ và số phận bi thương của nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Qua nhân vật Lão Hạc, tác giả đã thể hiện sâu sắc nỗi đau day dứt của người nông dân đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ. Đồng thời, truyện cũng thể hiện nhiều nét nghệ thuật đặc sắc trong cách xây dựng nhân vật và kể chuyện.
Trước hết, lão Hạc là người nông dân có hoàn cảnh rất đáng thương. Vợ mất sớm, con trai vì quá nghèo không đủ tiền lấy vợ nên bỏ đi làm đồn điền cao su nơi xa. Lão phải sống trong cảnh cô đơn và túng thiếu. Tài sản duy nhất của lão là mảnh vườn nhỏ để lại cho con trai và con chó Vàng - kỷ vật của người con. Dù cuộc sống rất khó khăn, lão vẫn quyết tâm giữ lại mảnh vườn cho con, không muốn bán đi. Điều đó cho thấy lão là một người cha rất yêu thương và suy nghĩ về tương lai cho con.
Một chi tiết rất xúc động trong truyện là việc lão Hạc bán con chó. Đối với lão, con chó không chỉ là kỷ vật của con mà còn là người bạn thân thiết. Sau khi bán chó, lão cảm thấy vô cùng đau khổ, day dứt và ân hận vì cảm thấy mình đã lừa dối một người bạn. Chi tiết này đã cho thấy sự nhân hậu và giàu tình cảm của lão Hạc.
Không chỉ vậy, lão Hạc là người có lòng tự trọng rất cao. Dù nghèo đói, lão vẫn không muốn làm phiền hay dựa dẫm vào người khác. Khi không còn cách nào để sống mà vẫn giữ được mảnh vườn cho con, lão đã chọn cái chết bằng bả chó. Cái chết của lão cho thấy sự bế tắc của người nông dân trong xã hội cũ, vừa cho thấy tình yêu thương con bao la và lòng tự trọng đáng quý của lão.
Bên cạnh giá trị nội dung, truyện còn thành công về mặt nghệ thuật. Nam Cao xây dựng nhân vật chân thực, đặc biệt là lão Hạc với nội tâm sâu sắc. Truyện được kể qua nhân vật ông giáo nên khách quan, gần gũi và giàu suy ngẫm. Nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế, nhất là khi lão Hạc kể chuyện bán cậu Vàng. Ngôn ngữ giản dị, đậm chất nông thôn và tình huống truyện chặt chẽ, nổi bật ở chi tiết bán chó và cái chết của lão Hạc, tạo nên sự cao trào xúc động.
Qua truyện ngắn “Lão Hạc”, Nam Cao đã thể hiện sự cảm thông sâu sắc đối với những người nông dân nghèo khổ. Tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực xã hội lúc bấy giờ mà còn làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam.