Nguyễn Trọng Hồng Phúc

Giới thiệu về bản thân

Hãy miêu tả đôi chút về bản thân bạn!!!
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Phú dưỡng là hệ quả sau khi ao hồ, sông ngòi tiếp nhận quá nhiều các nguồn thải chứa các chất dinh dưỡng (Nitơ, Photpho) vượt quá khả năng tự điều hòa của ao, hồ. Các nguồn thải xả thải cung cấp đầu vào cho quá trình này tăng lên từng ngày.

Nguyên nhân

nông dân sử dụng phân bón trong trồng trọt: Phân bón dường như là một phần không thể thiếu trong nông nghiệp, thúc đẩy quá trình phát triển của cây trồng. Cũng vì vậy, nhiều người lầm tưởng, bón càng nhiều phân càng tốt. Thực chất, cây trồng chỉ hấp thụ một lượng nhất định. Khi lượng này vượt quá khả năng đồng hóa của đất, chúng sẽ theo dòng chảy mặt ra ao, hồ.

sinh hoạt hàng ngày xả nước thải trực tiếp ra môi trường: chứa lượng chất hữu cơ rất lớn. Chúng bao gồm: nước thải nhà vệ sinh, rửa bát, làm sạch thực phẩm, chứa nhiều cặn thức ăn, dầu mỡ. 

nước thải chăn nuôi: Đây là nguồn thải giàu chất hữu cơ nhất, thường đến từ các cơ sở chăn nuôi gia đình. Phân hữu cơ chứa lượng lớn nitơ và photpho đẩy quá trình phú dưỡng diễn ra theo tiến trình nhanh nhất.

tác hại nghiêm trọng của hiện tượng phú dưỡng

Hiện tượng này gây ra nhiều hậu quả cho môi trường tự nhiên, cân bằng sinh thái và chính con người:

 gây mùi hôi thối:

Nước bị phú dưỡng thường bốc mùi hôi thối, dòng chảy thấp, lưu lâu hơn. Đó là do mùi hôi của nước, cùng với mùi của cá, và các sinh vật chết.

Mất mỹ quan

Nước chuyển màu xanh của tảo, dày đặc trên mặt nước gây mất mỹ quan môi trường.

Ảnh hướng tới thủy sinh

Hiện tượng phú dưỡng là nguyên nhân hàng đầu làm suy giảm hệ sinh thái ven bờ và dưới nước. Đây là hậu quả nghiêm trọng và khó khắc phục nhất. Ban đầu, khi các chất dinh dưỡng dược bổ sung, các loài sinh vật như thực vật thủy sinh, cá, tảo sẽ cùng nhau phát triển mạnh.

Tuy nhiên, sau thời gian dài, khi lượng chất dinh dưỡng quá lớn, tảo lấn chiếm không gian, bao phủ mặt trên của hồ. Lớp tảo ngăn không cho các loài sinh vật khác tiếp cận với mặt trời và oxy. Đồng thời, các nhóm tảo mới liên tục sản sinh và một phần tảo chết đi, bị chìm xuống tầng nước sâu hơn.

Phần lớn oxy được vi sinh vật sử dụng, gần như toàn bộ lượng oxy trong nước. Vì vậy, khi tảo phát triển trên mặt, các loài sinh vật khác đều dần dần bị chết do thiếu oxy cho quá trình hô hấp.

Chất lượng nước bị suy giảm

Các thành phần hóa học của nước bị thay đổi nghiêm trọng. Do dưới mặt nước, môi trường thiếu khí (thiếu oxy) được hình thành, với các sinh vật thiếu khí phân hủy sinh khối. Đồng thời diễn ra trong quá trình phân hủy hữu cơ, các hợp chất tự do độc hại như amoniac và hydro sunfua (H2S) được tạo ra.

Thay đổi độ đục và màu sắc của nước

Do các thành phần trong nước như thực vật, động vật phù du, vi sinh vật, nấm, bùn thay đổi. Nước bị phú dưỡng thường không còn trong như ban đầu, thay vào đó là màu đen, xám đặc trưng

Nguồn phát triển vi sinh vật, ruồi muỗi và bệnh tật

Đây là điều kiện tốt cho nhiều loài vi sinh vât gây bệnh phát triển. Với những người sống quanh khu vực có thể bị vấn đề về hô hấp. Trong trường hợp sử dụng nước ngầm, nguồn nước ô nhiễm từ ao có thể nhiễm vào, gây bệnh cho con người.

(1) \(N_{2} + O_{2} \underset{\rightarrow}{^{300 0^{o} C}} 2 N O\)

(2) \(2 N O + O_{2} \rightarrow 2 N O_{2}\)

(3) \(4 N O_{2} + O_{2} + 2 H_{2} O \rightarrow 4 H N O_{3}\)

(4) \(H N O_{3} + N H_{3} \rightarrow N H_{4} N O_{3}\)

  • Biên độ:
     Dao động trên đoạn 12 cm → \(A = \frac{12}{2} = 6\) cm
  • Số dao động: \(N = 20\)
  • Thời gian: \(t = 62,8\) s →
     Chu kỳ: \(T = \frac{t}{N} = \frac{62,8}{20} = 3,14\) s
     Tần số góc: \(\omega=\frac{2 \pi}{T}=\frac{2 \pi}{3,14}\approx2\text{ rad}/\text{s}\)

Tại \(x=-2\text{ cm}\), hướng về VTCB → vật đang đi từ biên âm về VTCB → vận tốc dương

  • Vận tốc:

\(v=\omega\sqrt{A^{2} - x^{2}}=2\sqrt{6^{2} - \left(\right. - 2 \left.\right)^{2}}=2\sqrt{36 - 4}=2\sqrt{32}\approx11,31\text{ cm}/\text{s}\)

  • Gia tốc:

\(a=-\omega^2x=-2^2\cdot\left(\right.-2\left.\right)=8\text{ cm}/\text{s}^2\)


Đáp số:

\(\boxed{v\approx11,31\text{ cm}/\text{s},a=8\text{ cm}/\text{s}^2}\)

  • Chu kỳ \(T = 4 s\) → \(\omega = \frac{2 \pi}{T} = \frac{\pi}{2} \&\text{nbsp};\text{rad}/\text{s}\)
  • Vật qua VTCB theo chiều âm tại \(t = 0\) → \(\varphi = \frac{\pi}{2}\)
  • Gọi quãng đường trong 1 chu kỳ là \(4 A\), trong 1.5 chu kỳ là \(6 A\)
  • \(6 A = 48 \Rightarrow A = 8 \&\text{nbsp};\text{cm}\)

Phương trình dao động:

\(\boxed{x \left(\right. t \left.\right) = - 8 sin ⁡ \left(\right. \frac{\pi}{2} t \left.\right) \&\text{nbsp};\text{cm}}\)

Phương trình định luật II Newton : 

\(\overset{\rightarrow}{P} + \overset{\rightarrow}{F_{đ\text{h}}} = \overset{\rightarrow}{0}\) (1)

Chiếu (1) lên hướng \(\overset{\rightarrow}{P}\)  

=> \(P = F_{đ\text{h}} \Leftrightarrow m g = k . \Delta l \Leftrightarrow \Delta l = \frac{m g}{k} = \frac{0 , 5.10}{100} = 0 , 05 \left(\right. m \left.\right)\)

=> Chiều dài lò xo \(l_{1} = l + \Delta l = 40 + 5 = 45\) (cm)

b) \(l_{2} = l + \Delta l = 48 \left(\right. c m \left.\right) \Leftrightarrow \Delta l = 8 \left(\right. c m \left.\right) = 0 , 08 \left(\right. m \left.\right)\)

Khi đó \(m = \frac{k . \Delta l}{g} = \frac{100.0 , 08}{10} = 0 , 8 \left(\right. k g \left.\right)\)

Vậy khối lượng vật cần treo : 0,08 kg

Áp dụng định luật bảo toàn động lượng :

→pt=→ps��→=��→ <=> m1→v1=m2→v2�1�1→=�2�2→

=> m1→v1+m2→v2=→v(m1+m2)�1�1→+�2�2→=�→(�1+�2)

<=> →v=m1→v1+m2→v2m1+m2�→=�1�1→+�2�2→�1+�2

chọn chiều dương là chiều chuyển động ban đầu của xe

a)Cùng chiều : v=60.4+3.10060+90=3,6(m/s)�=60.4+3.9060+90=3,4(�/�)

b) Ngược chiều : v=−60.4+3.10060+90=0,4(m/s)

The opponent how to attack his face to face the voice and watching TV can potentially improve their thinking process differntly the time to see how much I want it isn't to make him happy with this statement and I totally understand it is undeniable to attack the other things I totally understand that I don't have to

Câu 1 (2.0 điểm):

Trong cuộc sống hiện đại, lối sống chủ động đóng vai trò vô cùng quan trọng. Chủ động không chỉ là biết lên kế hoạch cho công việc, học tập mà còn là tinh thần sẵn sàng đối mặt, thích ứng với thay đổi và khó khăn. Người sống chủ động luôn tự tin, biết làm chủ thời gian, nắm bắt cơ hội và không chờ đợi người khác quyết định thay mình. Trong một xã hội đầy cạnh tranh, nếu thụ động, trì trệ, con người sẽ dễ bị tụt lại phía sau. Ngược lại, sống chủ động giúp mỗi cá nhân phát triển toàn diện hơn, tạo nền tảng vững chắc cho thành công và hạnh phúc. Đặc biệt, trong thời đại số, việc chủ động học hỏi, trau dồi kỹ năng và kiến thức trở nên thiết yếu để bắt kịp nhịp sống thay đổi từng ngày. Vì thế, mỗi chúng ta cần rèn luyện cho mình một lối sống chủ động – từ những việc nhỏ hàng ngày đến những quyết định lớn của cuộc đời – để không chỉ phát triển bản thân mà còn đóng góp tích cực cho cộng đồng, xã hội.

Câu 2 (4.0 điểm):

Bài thơ Bảo kính cảnh giới – Bài 43 của Nguyễn Trãi là một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống bình dị nhưng sâu sắc, thể hiện tâm hồn yêu nước, yêu thiên nhiên và quan tâm đến dân của tác giả. Mở đầu bài thơ, cảnh sắc được tái hiện sinh động, đầy sức sống: tán hòe rợp bóng, hoa thạch lựu đỏ rực, hồ sen tỏa hương thơm ngát. Thiên nhiên hiện lên trù phú, hài hòa, mang vẻ đẹp thanh tịnh và thư thái, phản ánh tâm hồn tĩnh tại, ung dung của Nguyễn Trãi. Không chỉ dừng lại ở thiên nhiên, bài thơ còn mở rộng ra đời sống lao động của con người: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ”, âm thanh rộn ràng, tươi vui, tràn đầy sức sống. Tất cả gợi nên một khung cảnh làng quê no ấm, thanh bình. Hai câu kết “Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương” thể hiện lý tưởng cao cả của Nguyễn Trãi: mong muốn đem tài trí giúp dân sống no đủ, thái bình như thời vua Nghiêu, vua Thuấn. Qua đó, bài thơ không chỉ cho thấy một tâm hồn nghệ sĩ mà còn là một tấm lòng trung quân, ái quốc, khát khao cống hiến vì dân, vì nước.


Câu 1 (0.5 điểm):
Thể thơ của văn bản trên là thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2 (0.75 điểm):
Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả:

  • Một mai, một cuốc, một cần câu
  • Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

→ Đây là những hình ảnh gắn liền với cuộc sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên, thể hiện lối sống thanh đạm và tách biệt khỏi chốn quan trường bon chen.

Câu 3 (0.75 điểm):
Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu:
“Một mai, một cuốc, một cần câu”

Tác dụng:

Nhấn mạnh những dụng cụ đơn sơ, gắn bó với cuộc sống lao động hàng ngày.

Thể hiện lối sống giản dị, thanh cao, không màng danh lợi của tác giả.

Gợi nên hình ảnh một cuộc sống tự tại, an nhàn, gần gũi với thiên nhiên và lao động.

Câu 4 (1.0 điểm):
Hai câu thơ:
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao”

Quan niệm dại – khôn đặc biệt:

Tác giả đảo ngược quan niệm thông thường: cái được cho là "dại" (sống ẩn dật, tránh xa danh lợi) lại là khôn theo quan niệm của ông.

“Dại” không phải là thiếu khôn ngoan mà là cách sống khôn ngoan đích thực để giữ gìn nhân cách, tìm sự bình yên nội tâm.

“Khôn” (theo người đời là bon chen danh lợi) lại là điều mà ông muốn tránh xa.

→ Quan niệm dại – khôn độc đáo, thể hiện tư tưởng sống khác biệt, sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Câu 5 (1.0 điểm):
Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một con người có nhân cách cao đẹp. Ông sống giản dị, thanh cao, tránh xa danh lợi và chọn cuộc sống ẩn dật nơi thôn quê yên bình. Ông không chạy theo những phù phiếm, xô bồ mà tìm sự an nhiên trong tâm hồn. Tư tưởng “dại – khôn” của ông cho thấy một trí tuệ sâu sắc và cách sống đầy bản lĩnh, đáng kính trọng.

Câu 1:

Đoạn văn nghị luận về bài thơ "Quê hương" của Giang Nam

Bài thơ "Quê hương" của Giang Nam là một tác phẩm thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc, kết hợp với những mất mát đau thương trong cuộc chiến tranh. Nội dung bài thơ nổi bật ở cảm hứng yêu quê hương được diễn đạt qua những kỷ niệm thời thơ ấu và sự hy sinh của những con người gắn bó với quê hương. Cảm xúc chủ đạo trong bài thơ là sự gắn bó với quê hương, từ những hình ảnh giản dị như chim, bướm, đến sự mất mát trong chiến tranh. Tác giả đã sử dụng hình ảnh cô bé nhà bên để thể hiện sự trong sáng của tuổi thơ và sự dũng cảm trong cuộc kháng chiến. Qua đó, bài thơ còn phản ánh sự đau đớn, mất mát của người lính khi chứng kiến sự hi sinh của những người bạn thân yêu.

Về nghệ thuật, Giang Nam sử dụng thể thơ tự do, không tuân theo cấu trúc chặt chẽ của các thể thơ truyền thống. Điều này giúp tác giả tự do thể hiện những cảm xúc dồn nén, làm nổi bật sự biến chuyển trong tình yêu quê hương của nhân vật trữ tình. Các biện pháp tu từ như điệp từ, hình ảnh sinh động và lời thơ đậm chất tự sự càng làm tăng tính thẩm mỹ và sâu sắc cho tác phẩm.

Câu 2:

Bài văn nghị luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen phân biệt vùng miền trên mạng xã hội

Trong thời đại công nghệ số, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của mỗi người. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, mạng xã hội cũng là nơi tồn tại nhiều vấn đề, trong đó có hiện tượng phân biệt vùng miền. Thói quen này không chỉ gây ra những mâu thuẫn vô lý mà còn làm tổn hại đến tình đoàn kết và sự hòa hợp giữa các cộng đồng. Vì vậy, cần thiết phải từ bỏ thói quen phân biệt vùng miền trên mạng xã hội để xây dựng một môi trường mạng lành mạnh và văn minh hơn.

Trước hết, phân biệt vùng miền trên mạng xã hội là sự thể hiện của thái độ thiếu tôn trọng và thiếu hiểu biết. Mỗi vùng miền đều có những đặc điểm văn hóa, lịch sử và truyền thống riêng biệt. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là một vùng miền nào đó được phép coi thường hay đánh giá thấp các vùng miền khác. Khi ta phân biệt vùng miền, ta vô tình đánh mất đi sự trân trọng đối với những giá trị văn hóa độc đáo của các vùng đất, từ đó tạo ra những rào cản trong giao tiếp, làm tổn hại đến tình đoàn kết dân tộc.

Ngoài ra, phân biệt vùng miền còn dễ dẫn đến sự phân hóa và mâu thuẫn trong xã hội. Khi mỗi cá nhân hay nhóm người coi trọng vùng miền của mình mà hạ thấp vùng miền khác, điều này sẽ tạo ra một môi trường đầy sự kỳ thị và xa lánh. Mạng xã hội, với tính chất lan tỏa nhanh chóng, sẽ dễ dàng làm thổi bùng những xung đột này, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hình ảnh cá nhân mà còn tổn hại đến sự đoàn kết của cộng đồng.

Thêm vào đó, phân biệt vùng miền trên mạng xã hội cũng làm giảm đi tính đoàn kết của dân tộc, điều mà chúng ta đã phải đấu tranh và hy sinh rất nhiều trong lịch sử. Chúng ta là một dân tộc với bề dày văn hóa, lịch sử và truyền thống đoàn kết. Mỗi vùng miền đều đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước, từ văn hóa đến kinh tế, từ giáo dục đến khoa học. Phân biệt vùng miền chỉ khiến cho những đóng góp ấy bị xói mòn và tạo ra sự phân hóa không cần thiết.

Vậy, để từ bỏ thói quen phân biệt vùng miền trên mạng xã hội, mỗi người trong chúng ta cần nâng cao nhận thức, tôn trọng sự khác biệt và đồng thời khuyến khích sự giao lưu, học hỏi lẫn nhau. Hãy xem mỗi vùng miền như một phần không thể thiếu trong bản đồ văn hóa của dân tộc. Chúng ta cần nhìn nhận và đánh giá con người, sự vật, sự việc không qua màu sắc vùng miền mà qua những giá trị nhân văn, phẩm hạnh và đóng góp của mỗi cá nhân.

Kết luận, việc từ bỏ thói quen phân biệt vùng miền trên mạng xã hội không chỉ giúp tạo ra một cộng đồng mạng lành mạnh, văn minh mà còn góp phần xây dựng một xã hội đoàn kết, hòa bình. Hãy cùng nhau lan tỏa tình yêu thương và sự hiểu biết, để chúng ta có thể sống chung hòa thuận, bất chấp sự khác biệt vùng miền, và cùng nhau phát triển đất nước.