Phan Trọng Kiên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phan Trọng Kiên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận

b. Xác định đúng yêu cầu của bài văn nghị luận: đưa ra ý kiến về vấn đề học sinh cần hay không cần làm bài tập về nhà.

c. Triển khai yêu cầu của bài 

HS có thể triển khai bài làm theo nhiều hướng khác nhau; đảm bảo các yêu cầu sau:

Mở bài: nêu vấn đề cần bàn luận (Học sinh cần hay không cần làm bài tập về nhà?).

Thân bài: lần lượt trình bày ý kiến theo một trình tự nhất định để làm rõ vấn đề đã nêu ở mở bài. Tùy vào ý kiến (Học sinh cần hay không cần làm bài tập về nhà?) để trình bày các lí lẽ, bằng chứng. Ví dụ:

+ Cần làm bài tập về nhà (ý kiến).

+ Nêu các lí lẽ để làm rõ vì sao cần làm bài tập về nhà (lí lẽ).

+ Nêu các bằng chứng cụ thể về lợi ích của việc làm bài tập về nhà (bằng chứng).

Kết bài: khẳng định lại ý kiến, đề xuất các biện pháp để việc làm bài tập về nhà của học sinh đạt hiệu quả.

d. Chính tả, ngữ pháp: đúng chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ, sinh động. 

Câu 9. (1,0 điểm)

- Nêu được biện pháp tu từ so sánh.

- Chỉ ra biểu hiện của so sánh: “Rượu được rót tràn bát” với “tình cảm của người vùng cao lúc nào cũng lai láng không bến bờ.”.

- Nêu được tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:

+ Làm câu văn sinh động, gợi hình, gợi cảm.

+ Nhấn mạnh nghĩa tình và văn hóa của người vùng cao.

+ Niềm trân quý, tự hào của tác giả với nét đẹp nghĩa tình của người vùng cao.

Câu 10. (1,0 điểm)

*Đảm bảo hình thức đoạn văn với dung lượng 5 - 7 dòng.

*Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn:

Gợi ý bài học rút ra từ văn bản:

- Ca ngợi tình yêu đôi lứa, trong sáng, thuỷ chung.

- Tự hào, giữ gìn, phát huy, quảng bá bản sắc văn hoá dân tộc.

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn miêu tả

b. Xác định đúng yêu cầu của bài văn miêu tả: tả khung cảnh gia đình em quây quần trong bữa ăn.

c. Triển khai yêu cầu của bài 

HS có thể triển khai bài làm theo nhiều hướng khác nhau; đảm bảo các yêu cầu sau:

Mở bài: giới thiệu chung về khung cảnh bữa ăn gia đình (Diễn ra khi nào? Ở đâu?...).

Thân bài: miêu tả chi tiết khung cảnh bữa ăn, chú ý miêu tả hoạt động của các thành viên trong gia đình; có thể theo trật tự sau:

+ Khung cảnh bữa ăn

+ Diễn biến bữa ăn: miêu tả chi tiết hoạt động của các thành viên; chú ý thái độ, tình cảm của từng thành viên,…

Kết bài: cảm xúc và suy nghĩ của em về khung cảnh gia đình quây quần trong bữa ăn. 

d. Chính tả, ngữ pháp: đúng chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ, sinh động. 

Câu 9. (1,0 điểm)

*Đảm bảo hình thức của đoạn văn với dung lượng 3 - 5 dòng.

*Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn:

- Chỉ ra biện pháp tu từ liệt kê “tâm hồn, trái tim, tài năng của nhân dân”.

- Tác dụng:

+ Tạo nhịp điệu, làm câu hay, sinh động.

+ Nhấn mạnh giá trị của ca dao Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung với mỗi người.

+ Làm rõ sự tự hào, trân trọng, đề cao của tác giả với ca dao.

*Chính tả: dùng từ, đặt câu đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa tiếng Việt.

Câu 10. (1,0 điểm)

*Đảm bảo hình thức đoạn văn với dung lượng 5 - 7 dòng.

*Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn:

- Ý nghĩa của việc gìn giữ bản sắc văn hóa qua những câu ca dao - dân ca:

+ Giúp con người ý thức về cội nguồn.

+ Nhắc nhở thế hệ người Việt trẻ hiểu thêm về giá trị của ca dao - dân ca.

+ Nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc qua những câu ca dao - dân ca, dấu ấn bản sắc riêng của tâm hồn Việt.

*Chính tả: dùng từ, đặt câu đảm bảo chuẩn ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt.

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn miêu tả

b. Xác định đúng yêu cầu của bài văn miêu tả: tả trận thi đấu thể thao.

c. Triển khai yêu cầu của bài 

HS có thể triển khai bài làm theo nhiều hướng khác nhau; đảm bảo các yêu cầu sau:

Mở bài: giới thiệu chung về trận thi đấu thể thao mà em đã tham gia hoặc chứng kiến (Thi đấu gì? Diễn ra khi nào? Ở đâu? Có những ai tham gia?...).

Thân bài: miêu tả chi tiết, chú ý miêu tả hoạt động và diễn biến của trận thi đấu thể thao; có thể theo trật tự sau:

+ Quang cảnh trận thi đấu.

+ Diễn biến trận thi đấu: miêu tả chi tiết hoạt động của các thành viên tham gia thi đấu; chú ý thái độ, tình cảm của những người tham gia thi đấu và tình cảm của người xem.

Kết bài: cảm xúc và suy nghĩ của em về trận thi đấu thể thao.  

d. Chính tả, ngữ pháp: đúng chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ, sinh động. 

dấu ngoặc kép "nóc nhà" được sử dụng để nhấn mạnh từ ngữ.

Buổi sáng hôm ấy, sân trường em trở nên nhộn nhịp hơn hẳn vì cả lớp tham gia buổi lao động vệ sinh. Trời trong xanh, nắng nhẹ, không khí rất dễ chịu. Ngay từ sớm, các bạn đã có mặt đông đủ, mỗi người mang theo một dụng cụ như chổi, khăn lau hay xô nước. Khi cô giáo phân công công việc, ai cũng nhanh chóng bắt tay vào làm.

Các bạn nam thì quét sân, gom lá khô thành từng đống gọn gàng. Tiếng chổi tre xào xạc vang lên nghe thật vui tai. Các bạn nữ thì lau bàn ghế, cửa sổ, bảng lớp. Những chiếc khăn ướt thoăn thoắt lau đi bụi bẩn, làm cho lớp học sáng sủa hơn hẳn. Ở một góc sân, một số bạn đang nhổ cỏ và chăm sóc bồn hoa, vừa làm vừa trò chuyện rôm rả. Thỉnh thoảng lại có tiếng cười vang lên khiến không khí thêm phần vui vẻ.

Dù ai cũng mệt và lấm lem bụi bẩn, nhưng không bạn nào than vãn. Mọi người đều làm việc rất chăm chỉ và có trách nhiệm. Cô giáo đi quanh quan sát, thỉnh thoảng nhắc nhở và động viên chúng em cố gắng hơn. Sau hơn một giờ, sân trường đã sạch sẽ, lớp học gọn gàng và thoáng mát. Nhìn thành quả của mình, em cảm thấy rất vui và tự hào.

Buổi lao động không chỉ giúp trường lớp sạch đẹp hơn mà còn giúp em hiểu được ý nghĩa của việc giữ gìn vệ sinh chung. Đó là một kỉ niệm đáng nhớ, khiến em thêm yêu trường lớp và quý trọng công sức của mọi người.

Buổi sáng hôm ấy, sân trường em trở nên nhộn nhịp hơn hẳn vì cả lớp tham gia buổi lao động vệ sinh. Trời trong xanh, nắng nhẹ, không khí rất dễ chịu. Ngay từ sớm, các bạn đã có mặt đông đủ, mỗi người mang theo một dụng cụ như chổi, khăn lau hay xô nước. Khi cô giáo phân công công việc, ai cũng nhanh chóng bắt tay vào làm.

Các bạn nam thì quét sân, gom lá khô thành từng đống gọn gàng. Tiếng chổi tre xào xạc vang lên nghe thật vui tai. Các bạn nữ thì lau bàn ghế, cửa sổ, bảng lớp. Những chiếc khăn ướt thoăn thoắt lau đi bụi bẩn, làm cho lớp học sáng sủa hơn hẳn. Ở một góc sân, một số bạn đang nhổ cỏ và chăm sóc bồn hoa, vừa làm vừa trò chuyện rôm rả. Thỉnh thoảng lại có tiếng cười vang lên khiến không khí thêm phần vui vẻ.

Dù ai cũng mệt và lấm lem bụi bẩn, nhưng không bạn nào than vãn. Mọi người đều làm việc rất chăm chỉ và có trách nhiệm. Cô giáo đi quanh quan sát, thỉnh thoảng nhắc nhở và động viên chúng em cố gắng hơn. Sau hơn một giờ, sân trường đã sạch sẽ, lớp học gọn gàng và thoáng mát. Nhìn thành quả của mình, em cảm thấy rất vui và tự hào.

Buổi lao động không chỉ giúp trường lớp sạch đẹp hơn mà còn giúp em hiểu được ý nghĩa của việc giữ gìn vệ sinh chung. Đó là một kỉ niệm đáng nhớ, khiến em thêm yêu trường lớp và quý trọng công sức của mọi người.