Nguyễn Hữu Thanh Tuyền
Giới thiệu về bản thân
Câu1: Thể thơ của văn bản
Thể thơ 7 chữ, biến thể của song thất lục bát. Mỗi khổ 4 câu, vần chân: _nhỏ - non - thơm - thơ_, nhịp nhẹ nhàng phù hợp hồi ức.
Câu2:Hình ảnh ngôi trường ở khổ 1
- Hồn tôi đấy: căn trường nho nhỏ
- Nước vôi xanh, bờ cỏ tươi non
- Lâu rồi còn thoảng mùi thơm
- Chân đi nghe động tới hồn ngây thơ
- Chi tiết: "căn trường nho nhỏ", "nước vôi xanh", "bờ cỏ tươi non", "mùi thơm còn thoảng", "hồn ngây thơ".
-> Gợi ngôi trường làng đơn sơ, sạch sẽ, gắn với tuổi thơ trong trẻo, thân thương.
Câu 3: "Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp"?
*Là câu hỏi tu từ, cảm thán.
- Thể hiện tâm thế yêu đời của nhân vật trữ tình: cuộc đời, tuổi học trò quá đẹp, quá vui đến nỗi không còn thời gian để buồn.
- Đồng thời thoáng chút lo âu non nớt: cái đẹp mong manh, sợ không giữ kịp.
Câu 4: Biện pháp tu từ trong đoạn
- Cỏ mấy bận xanh rồi lại tạ
- Gió lùa thu trong lá bao lần
- Bạn trường những bóng phù vân
- Xót thương mái tóc nay dần hết xanh.
- Ẩn dụ, hoán dụ về thời gian: "cỏ mấy bận xanh rồi lại tạ", "gió lùa thu... bao lần". -> lấy vòng đời cỏ, mùa thu để chỉ thời gian trôi qua nhanh, nhiều năm tháng.
- Ẩn dụ "bóng phù vân": chỉ bạn bè cũ nay mỗi người một nơi, kiếp người trôi nổi, mong manh.
- Tương phản: "cỏ xanh" - "tóc hết xanh" -> đối lập giữa thiên nhiên luôn tuần hoàn và con người già đi.
- Tác dụng:Gợi nỗi hoài niệm, xót xa, thấm thía sự vô thường; làm lời thơ vừa cổ kính vừa man mác buồn.
Câu 5: Suy nghĩ về tình cảm với trường lớp
Bài thơ nhắc ta:
- Mái trường là một phần hồn mình, nơi lưu giữ mùi vôi, bãi cỏ, tiếng trống, tình bạn ngây thơ.
- Phải biết trân trọng, gìn giữ ký ức, sống ân nghĩa với thầy cô, bạn bè; khi đi xa vẫn nhớ về.
- Bài học: sống hết mình với hiện tại để sau này không tiếc nuối, vì tuổi học trò qua rất nhanh.