Nguyễn Đức Việt
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Điển tích, điển cố: trâm gãy, bình rơi hoặc châu sa.
Câu 3.
– Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: Đảo ngữ.
– Tác dụng: Tác giả đã đảo các từ láy tượng hình sè sè, dàu dàu lên đầu mỗi dòng thơ nhằm nhấn mạnh trạng thái của sự vật được nói đến (độ thấp của nấm mồ Đạm Tiên; độ kém sắc, héo úa của ngọn cỏ).
Câu 4.
– Các từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản: Sè sè, dàu dàu, xôn xao, mong manh, đầm đầm.
– Tác dụng của hệ thống từ láy: Việc sử dụng nhiều từ láy (cả từ láy tượng hình và tượng thanh) có tác dụng khắc họa chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc họa trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản.
Câu 5.
– Tâm trạng, cảm xúc của nàng Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên: Đau lòng, xót thương cho số phận của Đạm Tiên.
– Nhận xét về nhân vật Thúy Kiều: Nàng là người con gái nhân hậu. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, nàng không chỉ đồng cảm với cảnh ảm đạm, lạnh lẽo nhang khói của nấm mồ Đạm Tiên khi không người thăm nom, săn sóc; mà nàng còn khóc thương cho thân phận những người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong xã hội của nàng.
Câu 1. Kiểu văn bản: Văn bản nghị luận.
Câu 2. Ai không dám vượt qua vùng an toàn của bản thân, không dám nắm lấy cơ hội thì là đang tự trói mình.
Câu 3. Đoạn văn đầu tiên là câu chuyện đóng vai trò dẫn dắt, làm sáng rõ vấn đề nghị luận đã nêu ra ở nhan đề.
Câu 4. Đoạn văn (5) được trình bày theo kiểu diễn dịch. Câu chủ đề ở đầu đoạn.
Câu 5.
+ Người hạnh phúc hơn là người lao vào cuộc chơi để giành chiến thắng: vì họ được khẳng định khả năng của bản thân, ngày càng tiến bộ, thành công hơn,…
Câu 1.
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Miêu tả, biểu cảm, nghị luận.
Câu 2.
Luận đề: Tổ quốc em hình gì? (bàn về dáng hình của Tổ quốc trong tâm hồn mỗi người Việt).
Câu 3.
- Mở bài ngắn gọn bằng một câu hỏi nêu vấn đề, mang tính đối thoại với giọng điệu trìu mến, thân thương.
- Kết bài bằng lời khuyên dưới dạng một câu hỏi có sức lay động và truyền cảm, tránh được sự giáo điều, khô khan.
Câu 4.
- Luận đề: Tổ quốc em hình gì?
- Luận điểm:
+ Đất nước như một con tàu - gắn với khát vọng "ra khơi".
+ Đất nước hình bông lúa - gắn với nỗi vất vả của mẹ cha và tình nghĩa đồng bào.
+ Đất nước hình tia chớp - gắn với kí ức một thời đạn bom.
+ Đất nước hình mẹ già ngồi đan nón - gắn với quá khứ đói nghèo của dân tộc.
+ Đất nước hình chim câu - gắn với ước mơ hòa bình.
+ Đất nước hình tro mái tranh nghèo - nhắc nhở về tình người.
=> Cách lập luận rõ ràng, mạch lạc phản ánh từng khía cạnh cụ thể của dáng hình Tổ quốc, góp phần làm sáng tỏ cho luận đề của văn bản.
Câu 5.
- Phép lặp được thể hiện rõ nét nhất qua việc tác giả lặp lại xuyên suốt văn bản những cấu trúc sau:
+ Có phải ... ?
+ Để ... ?
=> Việc lặp đi lặp lại những cấu trúc trên (dưới dạng câu hỏi tu từ) vừa có tác dụng nhấn mạnh những dáng hình Tổ quốc trong lòng mỗi người dân nước Việt; vừa tác động mạnh mẽ đến cảm xúc của bạn đọc về những nỗi gian lao, vất vả, về những ước mơ, khát vọng của nhân dân, dân tộc; đồng thời thể hiện một tinh tế sự trân trọng, niềm hạnh phúc, tự hào mà tác giả dành cho đất nước.
Câu 1.
Luận đề: Giới trẻ với văn hóa ứng xử trên mạng xã hội (văn hóa ứng xử trên mạng xã hội của giới trẻ).
Câu 2.
Thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn (2): Chứng minh.
Câu 3.
- Để làm sáng tỏ cho luận điểm, tác giả đã đưa ra những lí lẽ sau:
+ Lí lẽ 1: Số lượng bạn trẻ sử dụng MXH trên thế giới và ở Việt Nam.
+ Lí lẽ 2: Những mâu thuẫn, xung đột tiềm ẩn trên MXH.
+ Lí lẽ 3: Bàn về cách ứng xử đúng đắn khi tham gia MXH.
- Nhận xét: Cách lập luận xác đáng, chặt chẽ, rõ ràng, giàu sức thuyết phục.
Câu 4.
Ở đoạn (3), để làm sáng tỏ cho luận điểm: Mạng xã hội bên cạnh những lợi ích vượt trội, vẫn còn tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn, xung đột, tác giả đã đưa ra những bằng chứng sau:
- Môi trường MXH đang bị vẩn đục bởi các hành vi giao tiếp, ứng xử chưa văn hóa; cách sử dụng MXH của một số người dùng chưa thật sự văn minh, hoặc số ít còn lợi dụng các diễn đàn để công khai đả kích, nói xấu, bôi nhọ lẫn nhau.
- Rất nhiều bạn trẻ còn quan niệm MXH là thế giới ảo, có thể ẩn danh nên rất dễ dãi trong ứng xử, xem MXH là công cụ để săm soi đời tư của người khác, thể hiện cái tôi cá nhân, hoặc tự cho mình cái quyền “tự do ngôn luận” núp bóng trong hành vi phỉ báng, cư xử thiếu văn hóa… làm tổn thương người khác, lây lan cách ứng xử tiêu cực cho cộng đồng.
Câu 5.
Vấn đề mà tác giả đề cập cho tới hôm nay vẫn còn ý nghĩa vì văn hóa ứng xử của người trẻ trên không gian MXH chưa thực sự được cải thiện, vẫn còn tồn tại nhiều bạn trẻ có hành vi, cách ứng xử thiếu văn minh trên không gian mạng, gây ảnh hưởng tới những người khác.
Câu 1.
Câu văn mang luận điểm của đoạn trích: Như mọi công dân chân chính khác, trong cái "Vất vả và gian lao" đằng đẵng của đất nước, tác giả cũng có phần đóng góp công sức nhỏ bé của mình, đó là phần đóng góp tự nguyện như một lẽ sống.
Câu 2.
Trong đoạn trích, người viết đã lựa chọn những từ ngữ, hình ảnh: ta, con chim hót, một cành hoa, một nốt trầm để phân tích.
Câu 3.
Việc người viết dẫn ra hoàn cảnh ra đời của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ và tâm trạng của nhà thơ Nguyễn Duy được thể hiện trong bài Ánh trăng có ý nghĩa:
- Tạo cơ sở để đưa ra lí giải của người viết về thông điệp mà nhà thơ gửi gắm về mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và cộng đồng. Đó mới là lẽ sống đẹp vĩnh cửu, là lẽ sống cống hiến cho cuộc đời chung, đặc biệt là khi con người phải đối mặt với những khó khăn của cuộc sống.
- Giúp cho người đọc thấy được sự đồng điệu về tâm hồn giữa hai nhà thơ: Lẽ sống trên cho thấy sự đồng điệu giữa Thanh Hải và Nguyễn Duy trong cùng một bối cảnh của xã hội, chỉ là mỗi nhà thơ có một cách thể hiện khác nhau.
Câu 4.
- Trong câu văn sau: Mùa xuân, vầng trăng, tiếng chim hót, bông hoa nở... thì đã, đang và sẽ mãi mãi mãi tồn tại; đó là những giá trị vĩnh cửu; đó là cái đẹp vĩnh cửu... người viết đã kết hợp sử dụng biện pháp tu từ liệt kê (Mùa xuân, vầng trăng, tiếng chim hót, bông hoa nở - những tín hiệu thuộc về thiên nhiên, cuộc sống) và lặp cấu trúc đó là ... vĩnh cửu (kết cấu câu khẳng định).
- Tác dụng: Nhấn mạnh, khẳng định những giá trị vĩnh cửu, cái đẹp vĩnh cửu của thiên nhiên, cuộc sống và sức tác động của nó đến tâm hồn người nghệ sĩ.
Câu 5.
- Kiến giải về thông điệp được gửi gắm trong khổ thơ. Người viết cho rằng nhà thơ Thanh Hải đã gửi lời nhắn nhủ tới bạn đọc về lẽ sống, cống hiến cho cuộc đời chung những bản sắc riêng; sự cống hiến của mỗi người trong cuộc đời đều có giá trị và không thể so sánh. .
-Em có đồng tình với quan điểm của nhà thơ vì tất cả sự cống hiến ấy, dù nhỏ bé thì cũng đều đáng được trân trọng và công nhận
Câu 1.
Luận đề: Bi kịch về cái đẹp bị bức tử.
Câu 2.
Mục đích của người viết qua văn bản là phân tích, làm rõ những mâu thuẫn trong vở kịch Vũ Như Tô nhằm làm nổi bật lên bi kịch của cái đẹp bị bức tử.
Câu 3. (1.0 điểm)
- Những luận điểm chính trong văn bản:
+ Luận điểm 1: Bức tử về quan niệm.
+ Luận điểm 2: Bức tử về sự thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ.
+ Luận điểm 3: Bức tử về sự thanh minh.
+ Luận điểm 4: Bức tử về vật chất.
+ Luận điểm 5: Bức tử về con người nghệ sĩ.
- Nhận xét về hệ thống luận điểm: Hệ thống luận điểm được triển khai rất rõ ràng, mạch lạc, cụ thể góp phần làm sáng tỏ luận đề của văn bản.
Câu 4.
- Chi tiết trình bày khách quan: Tấm lòng biệt nhãn liên tài mà Đan Thiềm dành cho Vũ Như Tô đã bị các cung nữ, Kim Phượng và quân khởi loạn vu khống gán ghép cho tội “tư thông” - một tội danh xúc phạm nặng nề đến nhân cách con người. Hành động cầu xin tha mạng cho Vũ Như Tô vì “Nước ta còn cần nhiều thợ tài để tô điểm" của Đan Thiềm bị coi là lời xin của con “dâm phụ” cho kẻ “gian phu”.; Hành động cầu xin tha mạng cho Vũ Như Tô vì “Nước ta còn cần nhiều thợ tài để tô điểm" của Đan Thiềm bị coi là lời xin của con “dâm phụ” cho kẻ “gian phu”.
- Chi tiết trình bày chủ quan: Thật đau đớn và chua xót cho một tấm lòng “vì thiên hạ” mà chịu nỗi oan tày đình như thế. Nếu Đan Thiềm - trong giây phút tính mạng bản thân gặp nguy hiểm - mà “trở mặt” hùa về phe cung nữ và Kim Phượng thì chắc nàng đã không bị vu khống cho tội danh ghê gớm như vậy.; Rõ ràng ở đây mọi sự chia sẻ, cảm thông và thấu hiểu với cái đẹp đã bị loại trừ một cách tàn bạo, không chút thương tiếc.
- Tác dụng của hai cách trình bày trong văn bản:
+ Phần trình bày ý kiến khách quan là cơ sở để dẫn dắt tới ý kiến chủ quan của người viết, tạo nên sự thuyết phục cho ý kiến chủ quan.
+ Phần trình bày ý kiến chủ quan giúp người viết thể hiện rõ được ý kiến, quan điểm của mình trong quá trình đọc hiểu tác phẩm, góp phần làm rõ luận đề của bài viết, tạo nên sự thống nhất giữa nhan đề và nội dung bài viết, tạo nên sức thuyết phục lớn đối với người đọc.
Câu 5.
Ở đây, chúng ta có thể thấy Vũ Như Tô đáng thương hơn là đáng trách. Quan niệm nghệ thuật của ông vốn rất trong sáng, thanh cao nhưng chỉ vì tên bạo chúa, hôn quân Lê Tương Dực mà ông buộc phải xây dựng Cửu Trùng Đài. Thế nhưng, vì quá tập trung vào Cửu Trùng Đài - ước mơ, hoài bão ông theo đuổi mà Vũ Như Tô đã không lường trước được mâu thuẫn giữa nghệ thuật và đời sống đã bị đẩy đến mức cao trào như thế. Nhân dân nhìn Đan Thiềm như một con "dâm phụ", nhìn Vũ Như Tô như một kẻ làm "hao hụt công khố, để dân gian lầm than", nhìn Cửu Trùng Đài như khởi nguồn của mọi tai ương đối với bách tính. Mâu thuẫn giữa nghệ thuật và cuộc sống là mâu thuẫn muôn thuở, khó có thể giải quyết triệt để. Chính vì thế, Vũ Như Tô ở đây cũng là một kẻ đáng thương khi ôm khát vọng lớn lao, cao đẹp nhưng lại bị đặt nhầm chỗ, nhầm thời. Để rồi hiện thân của cái đẹp, người nghệ sĩ và cả người biết yêu cái đẹp đều bị bức tử và phải chấm dứt bằng cái chết.
Câu 1.
Luận đề: Ý nghĩa của chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương.
Câu 2.
- Tình huống truyện độc đáo: Người chồng sau bao năm đi lính theo lệnh của triều đình, may mắn thoát chết trở về, những mong được ôm ấp đứa con thì đứa con lại kể về người cha của mình ở nhà, khiến cho Trương Sinh nghi ngờ vợ.
- Chi tiết cái bóng chính là yếu tố quan trọng làm nên tình huống đầy bi kịch này.
Câu 3.
Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là để dẫn dắt, tạo đòn bẩy cho việc tập trung phân tích chi tiết cái bóng.
Câu 4.
- Chi tiết khách quan: Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ.
- Chi tiết chủ quan: Có lẽ vì muốn con luôn luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con.
- Mối quan hệ giữa hai cách trình bày trên trong văn bản:
+ Phần trình bày ý kiến khách quan là cơ sở để dẫn dắt tới ý kiến chủ quan của người viết, tạo nên sự thuyết phục cho ý kiến chủ quan.
+ Phần trình bày ý kiến chủ quan giúp người viết thể hiện rõ được ý kiến, quan điểm của mình trong quá trình đọc hiểu tác phẩm, góp phần làm rõ luận đề của bài viết, tạo nên sự thống nhất giữa nhan đề và nội dung bài viết, tạo nên sức thuyết phục lớn đối với người đọc.
Câu 5.
Người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì:
- Nó bắt nguồn từ một trò chơi dân gian, hết sức phổ biến, gần gũi với nhân dân.
- Nó thể hiện tình yêu của Vũ Nương dành cho con, cho chồng.
=> Người kể chuyện đã khéo léo đẩy một trò chơi dân gian lên làm một cái cớ để xây dựng một tình huống truyện độc đáo, góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề, tư tưởng của tác phẩm - lên án thói ghen tuông mù quáng như một căn bệnh truyền đời của nhân loạ
Câu 1.
Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc: Quận công Trịnh Duy Sản ra sức khuyên vua Lê Tương Dực tỉnh ngộ, rời xa sắc dục và dừng việc xây dựng Cửu Trùng Đài.
Câu 2.
Lời độc thoại được thể hiện qua lời thoại của vua Lê Tương Dực: Lão gàn quái! hoặc Có việc gì khẩn cấp?.
Câu 3.
- Những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực: cau mặt, nghĩ một lúc, nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ, rút kiếm.
- Nhận xét những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực:
+ Có tác dụng mô tả chân thực, cụ thể rõ nét hơn về nhân vật Lê Tương Dực.
+ Thể hiện rõ diễn biến tâm lí của vua Lê Tương Dực trước những lời can gián của Trịnh Duy Sản (đi từ không ưa đến tức giận đến mức như muốn giết chết Trịnh Duy Sản).
Câu 4.
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn: Liệt kê: Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.
- Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn văn: Khắc họa chân thực, cụ thể bối cảnh loạn lạc của đất nước ta lúc bấy giờ: Những cuộc khởi nghĩa xảy ra khắp nơi, nhân dân đói kém, loạn lạc, lầm than, bị hãm hiếp,...
Câu 5.
- Bối cảnh xã hội lúc bấy giờ: Đất nước loạn lạc, nhân dân điêu đứng lầm than không chỉ vì giặc cỏ làm loạn khắp nơi, mà còn vì vua quan bỏ bê dân chúng, chấp mê bất ngộ, chỉ biết vơ vét, bắt ép dân chúng, ham mê sắc dục. (HS có thể trích dẫn đan xen những chi tiết trong tác phẩm để làm sâu sắc hơn câu trả lời của mình.)
- Vua Lê Tương Dực là một vị hôn quân, nhu nhược và ích kỉ.
Câu 1.
Thể thơ: Tám chữ.
Câu 2.
Câu thơ Ngàn năm trước con theo cha xuống biển gợi cho em về truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên.
Câu 3.
- HS chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: So sánh.
- HS phân tích tác dụng của biện pháp tu từ: Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng giúp cho hình ảnh biển hiện lên sinh động hơn, ngôn ngữ thơ thêm hàm súc, qua đó góp phần khắc họa chân thực bao sóng gió, hiểm nguy mà một phần lãnh thổ của dân tộc ta phải đối diện.
Câu 4.
Qua đoạn thơ trên, tác giả nêu lên vấn đề về chủ quyền của đất nước, về vai trò quan trọng của biển đảo đối với một quốc gia, từ đó nhấn mạnh trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền dân tộc.
Câu 5.
- Luôn có ý thức tìm hiểu về lãnh thổ, chủ quyền dân tộc.
- Cần biết giữ gìn, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của dân tộc.
- Khắc ghi lời dạy, trân trọng sự hi sinh của những thế hệ đi trước để tiếp nối truyền thống yêu nước, sẵn sàng hiến dâng sinh mệnh vì dân tộc.
Câu 1.
Thể thơ tám chữ.
Câu 2.
Hình ảnh được sử dụng để so sánh với tuổi thơ con trong văn bản là một bài ca.
Câu 3.
Hiệu quả của việc sử dụng hình thức lời tâm sự con với mẹ trong văn bản: Tạo nên giọng điệu thơ ấm áp, gần gũi, giàu cảm xúc. Đó là tình yêu da diết dành cho những vẻ đẹp của quê hương, những khung cảnh, kỉ niệm gắn liền với tuổi thơ của con. Qua lời ru của mẹ, quê hương như càng đẹp hơn và con lớn lên, biết yêu quê hương ngay từ khi lọt lòng nhờ lời ru của mẹ.
Câu 4.
- Biện pháp điệp từ ("nhớ").
- Tác dụng:
+ Tạo nhạc điệu nhẹ nhàng, sâu lắng cho lời thơ.
+ Thể hiện tình cảm yêu thương, gắn bó, nhớ nhung da diết của người con dành cho quê nhà.
Câu 5.
+ Quê hương là mảnh đất chúng ta được sinh ra, lớn lên. Từ tinh túy của mảnh đất này, ta trau dồi bản thân cả về thể xác lẫn tinh thần, trở thành một công dân hoàn thiện, mang trong mình những ước mơ, khát vọng to lớn để sau này giúp đời, giúp người.
+ Quê hương còn là nơi con người ta quay trở về sau những bão tố, những khó khăn ngoài kia. Bất cứ người con nào khi xa quê trở về đều cảm thấy thanh thản, yên bình bởi cái không khí quen thuộc, bởi con người mộc mạc nơi xứ mình.