Nguyễn Đức Việt

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Đức Việt
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

Thể loại: Truyện trinh thám.

Câu 2.

Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể xưng "tôi" và "chúng tôi".

Câu 3.

Homles gửi cho hung thủ hạt cam là vì Holmes muốn dùng chính thủ đoạn của hung thủ để tác động đến chúng qua phương diện tâm lí. Holmes muốn chúng bị ám ảnh, lo lắng, sợ hãi như lúc chúng đẩy nạn nhân vào trạng thái tâm lí tương tự.

Câu 4.

Những nhận xét về Holmes:

- Cần mẫn, nghiêm túc trong công việc, chịu khó tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra ngọn ngành của sự việc.

- Căm phẫn trước điều ác, quyết tìm ra sự thật để đòi lại công lý cho những nạn nhân xấu số.

Câu 5.

Nhận xét về kết truyện:

- Kết truyện: Holmes và người bạn chờ đợi cảnh bọn sát nhân bị bắt nhưng kết cục là pháp luật chưa kịp trừng trị chúng thì chúng đã bị tai nạn ngoài khơi giữa Đại Tây Dương.

- Nhận xét: Đây là một cái kết đột ngột, bất ngờ, thể hiện tư tưởng của tác giả: Những kẻ thủ ác dù chưa bị pháp luật trừng trị thì cũng sẽ bị trừng phạt dưới hình thức khác theo luật nhân quả. Cái kết này cũng mang đến cho bạn đọc một bài học sâu sắc về lẽ thiện ác ở đời

Câu 1.

Thể loại: Truyện trinh thám.

Câu 2.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Tự sự, miêu tả.

Câu 3.

Vụ án này được coi là một điều bí ẩn vì:

+ Không có cách nào để xác định rõ được nguyên nhân của cái chết.

+ Thi thể không có một vết thương nào nhưng trong phòng lại có rất nhiều máu.

+ Phía các thám tử nhà nước không biết nạn nhân đã làm cách nào để vào được căn nhà hoang đó.

Câu 4.

- Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích: Liệt kê.

- Tác dụng của biện pháp tu từ: Biện pháp tu từ liệt kê được tác giả sử dụng để khắc họa một cách cụ thể, chi tiết những phương diện cơ bản về nạn nhân như trạng thái tử vong, độ tuổi, ngoại hình, trang phục,...

Câu 5.

Nhận xét về nhân vật Sherlock Holmes thông qua những chi tiết trong văn bản.

- Có khả năng quan sát nhanh nhạy: Khi mới đến hiện trường vụ án, Holmes đã nhận ra ngay sự hiện diện của một chiếc xe ngựa vào đêm xảy ra vụ án, sự xuất hiện của những dấu chân khác nhau,...

- Có tác phong làm việc cẩn thận, tỉ mỉ: Trước suy luận của hai vị thám tử nhà nước, Holmes không vội tin ngay, mà ông cẩn thận xem xét hiện trường để suy luận theo những gì mà bản thân đo được, thấy được.

- Có vốn tri thức sâu rộng: Điều này được thể hiện qua hiểu biết của ông về tiếng Đức, đặc điểm trong cách viết của người Đức, đặc trưng của xì gà Trichinopoly.

- Có khả năng suy luận đáng khâm phục: Dựa trên những manh mối mà bản thân thu thập được, ông đã nhanh chóng đưa ra lập luận xác đáng, thuyết phục, sâu sắc hơn hẳn lập luận của hai thám tử nhà nước kia. Lập luận của ông không chỉ đưa vụ án đi đúng hướng, mà còn phác họa được một cách chi tiết chân dung tội phạm: Một người đàn ông lực lưỡng, cao hơn 6 feet, tuổi trung niên. So với tầm vóc thì chân hơi nhỏ. Hắn đi giày mũi vuông, hút xì gà Trichinopoly. Hắn đến đây cùng với nạn nhân trên một chiếc xe ngựa bốn bánh. Con ngựa kéo xe có ba móng sắt cũ và một móng sắt mới ở chân trái trước. Thủ phạm có bộ mặt đỏ gay, móng bàn tay phải của hắn đặc biệt dài.


Câu 1.

Đoạn trích trên được viết theo ngôi kể thứ nhất.

Câu 2.

- Lời dẫn trực tiếp: “Em đừng buồn. Anh mà ở lại thì anh không đi được nữa. Thôi nào con, cho bố đi nào”.

- Lời người kể chuyện: Cha tôi bảo; Cha chuyền tay trao con gái cho vợ rồi quay gót.

Câu 3.

Câu văn “Lần này, bước chân ông quả quyết, thật nhanh, không ngoái đầu nhìn lại.” cho thấy:

- Thái độ cương quyết và tinh thần trách nhiệm của cha với Tổ quốc.

- Tình cảm yêu thương, gắn bó với gia đình, không dám nhìn lại vì sợ sẽ quyến luyến không thể rời xa vợ và con.

Câu 4.

- Biện pháp tu từ: Liệt kê.

- Tác dụng:

+ Làm tăng tính biểu đạt, hấp dẫn cho lời văn.

+ Nhấn mạnh những nỗi lo lắng, tấm lòng yêu thương của người cha dành cho con cái, gia đình.
Câu 5.
Em hoàn toàn đồng tình với cách giáo dục của người cha quân nhân:
-Đằng sau sự cứng rắn, khô khan đó vẫn là tình yêu thương thầm lặng, mong muốn con trai trở nên mạnh mẽ để bảo vệ bản thân, còn con gái được bao bọc đúng cách. Sự rèn giũa này là bệ phóng vững chắc cho hành trình trưởng thành.



Câu 1.

Truyện được kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2.

Trong đoạn trích, sự cẩu thả trong văn chương sẽ tạo nên những tác phẩm "vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi".

Câu 3.

- Biện pháp liệt kê.

- Tác dụng:

+ Tạo nên sự dồn dập liên tiếp những hành động trong sáng tạo nghệ thuật của Hộ.

+ Nhấn mạnh sự cẩn thận, đam mê trong sáng tạo nghệ thuật của một nghệ sĩ chân chính và yêu nghề, hết lòng vì nghệ thuật.

Câu 4.

- Nhân vật Hộ trước hết là một người nghệ sĩ chân chính với khát khao sáng tạo nghệ thuật mãnh liệt. Anh đã từng xem nhẹ vật chất, hết lòng trau chuốt cho tác phẩm của mình.

- Khi có vợ, vì những lo toan của cuộc sống, Hộ đã thay đổi. Anh không thể nhìn cảnh vợ con đói khát, khổ sở. Vì thế, chàng nghệ sĩ giàu nhiệt huyết ngày xưa đã vội vã viết. Chính anh cũng khẳng định những tác phẩm của mình thật vô vị. Hoàn cảnh khiến anh không thể thực hiện lí tưởng của mình. Điều đó làm anh dằn vặt, trăn trở, tự trách bản thân. Anh cũng là một nhân vật đáng thương.

Câu 5.

Em đồng tình với quan điểm trên, vì đó là một quan niệm đúng đắn, sâu sắc:

+ Thế giới văn chương cũng như cuộc sống luôn vô cùng phong phú, đa dạng. Nếu người nghệ sĩ cứ mãi đi theo một lối mòn thì sẽ tạo ra những tác phẩm nhàm chán, vô vị và tẻ nhạt.

+ Để tạo ra được những tác phẩm ấn tượng, người nghệ sĩ cần phải cẩn thận, kĩ lưỡng, sáng tạo, tìm ra những lối đi riêng, thể hiện phong cách riêng.

+ Khẳng định mỗi tác phẩm văn chương là cả sự sáng tạo kì công của người nghệ sĩ.


Câu 1.

Ngôi thứ ba.

Câu 2.

Hình tượng trung tâm của văn bản là những người phụ nữ có hoàn cảnh éo le, số phận bất hạnh.

Câu 3.

- Biện pháp điệp từ.

- Tác dụng:

+ Nhấn mạnh nỗi lòng của chị Lành, đó là tình thương của chị dành cho chính mình, cho đứa con sắp chào đời và cho cả dì Diệu.

+ Thể hiện sự thấu cảm, trân trọng của tác giả dành cho vẻ đẹp nhân cách của chị Lành. Tác giả ca ngợi một người phụ nữ biết yêu thương, thông cảm sâu sắc.

+ Giúp câu văn trở nên đậm chất trữ tình, sâu lắng.

Câu 4.

Cảm nhận về nhân vật dì Diệu:

+ Dì Diệu là người phụ nữ bất hạnh, có nhiều nỗi khổ, nhiều ưu sầu. Dì tủi phận, chua xót khi không thể có được cảm giác thai nghén, không được che chở cho đứa con của mình. Dì chỉ có thể tìm lấy cảm giác ấy bằng đôi bàn tay của mình lúc sờ vào bụng của chị Lành. Dì thèm cảm giác được làm mẹ. Dì khát khao có được thiên chức cao cả của người phụ nữ.

+ Dì Diệu cũng là người phụ nữ tốt, ân cần bên cạnh chị Lành dẫu đôi lúc dì cũng lo sợ. Dì không biết việc mình đang làm có đúng hay không. Dì lo nghĩ khi đứa bé ra đời, phải rời xa mẹ của nó thì sẽ ra sao.

--> Dì Diệu là một người phụ nữ mang trong lòng nhiều nỗi khổ tâm, muộn phiền. Bên cạnh đó, dì cũng là một người tốt, biết lo nghĩ, thông cảm cho người khác.
Câu 5.
Sự yêu thương và cảm thông sâu sắc với mọi người chính là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn, giúp gắn kết các mối quan hệ và làm cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Nổi bật trong dòng chảy đó là tình mẫu tử thiêng liêng, cao cả, là nguồn động lực và điểm tựa vững chắc nâng bước ta khôn lớn từng ngày. Để đền đáp công ơn sinh thành trời biển ấy, mỗi chúng ta cần biết ơn mẹ bằng những việc làm thiết thực như chăm chỉ học tập, vâng lời dạy bảo và quan tâm, chăm sóc mẹ từ những điều nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống hằng ngày.

Câu 1.

Phương thức biểu đạt chính: Tự sự.

Câu 2.

Ngôi kể: Ngôi thứ ba, người kể ẩn mình đi để kể lại câu chuyện.

Câu 3.

Thông qua câu chuyện về chú chó trung thành, tình nghĩa Hàn Lư, tác giả khẳng định, ngợi ca những con người có tấm lòng trung nghĩa, đồng thời bày tỏ thái độ phê phán đối với những kẻ bất trung, bất nghĩa, dễ bị lợi ích che mờ mắt.

Câu 4.

- Chi tiết kì ảo trong tác phẩm: Chú chó Hàn Lư biết nói tiếng người.

- Tác dụng :Giúp cho câu chuyện thêm li kì, thu hút bạn đọc và giúp tác giả thể hiện được một cách hấp dẫn, sinh động tư tưởng về lòng trung nghĩa.

Câu 5.

Những bài học được rút ra từ văn bản.

+ Cần giữ vững quan điểm, khí tiết, không chịu luồn cúi trước những điều gian dối, bất nghĩa trong bất cứ hoàn cảnh nào.

+ Có ý thức phê phán, đẩy lùi những hành vi hám lợi hay thỏa hiệp với cái xấu, cái ác trong xã hội.

+ Cần có ý thức đề phòng những cám dỗ trong cuộc đời.


Câu 1.

Thể loại: Truyện truyền kì.

Câu 2.

Khi trở về quê cũ, Từ Thức rơi vào một tình huống éo le:

+ Lúc này, Từ Thức mới biết, mình đã rời xa trần thế quá lâu, vật đổi sao dời, những người thân thích cùng thời đều không còn nữa.

+ Muốn quay trở lại chốn tiên cảnh thì xe mây đã hóa thành một con chim loan bay đi mất.

Câu 3.

- Không gian nghệ thuật trong đoạn trích có sự đan xen giữa cõi trần và cõi tiên.

+ Cõi trần: Huyện Tiên Du - quê cũ của Từ Thức.

+ Cõi tiên: Vùng núi Phù Lai - động tiên thứ 6 trong 36 động tiên bồng bềnh ngoài biển cả.

- Thời gian nghệ thuật có sự kết hợp giữa thời gian thực và thời gian kì ảo

+ Thời gian thực: năm thứ năm niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê.

+ Thời gian kì ảo: Thời gian ngưng đọng; Từ Thức ở động tiên khoảng một năm nhưng ở cõi trần đã hơn tám mươi năm.

Câu 4. (1.0 điểm)

- một chi tiết kì ảo trong tác phẩm:

+ Từ Thức gặp tiên và kết duyên cùng Giáng Hương trong sự chúc phúc của quần tiên.

- Tác dụng Giúp cho câu chuyện thêm sinh động, hấp dẫn, li kì, thu hút bạn đọc.

Câu 5.

+ Hành động của Từ Thức ở cuối đoạn trích: Chọn vào núi, xa rời cuộc sống trần gian.

+ Sau khi tìm về quê cũ, Từ Thức rơi vào cảnh bơ vơ, lạc lõng bởi chốn trần gian không còn người thân thích, quen biết với mình, còn chốn tiên cảnh, nơi có người vợ Giáng Hương thì lại không thể quay trở về được nữa. Cho nên, hành động bỏ vào núi là một hành động tất yếu, cũng là sự lựa chọn tốt nhất của chàng lúc bấy giờ.

Câu 1.

Thể loại: Truyện truyền kì.

Câu 2.

Chủ đề: Khát vọng tình yêu tự do thời phong kiến vượt lên trên những định kiến xã hội.

Câu 3.

- Người cha ngăn cản mối hôn sự này là vì chàng trai quá nghèo, không môn đăng hộ đối, xứng đôi với con gái của ông.

- Cách ứng xử của ông (chê chàng trai nghèo, mắng bà mối) thể hiện rõ sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội xưa.

Câu 4.

- Chi tiết kì ảo: Nước mắt chàng trai nhỏ xuống khối đá, khối đá liền tan thành nước, hóa thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng.

- Tác dụng:

+ Gây ấn tượng đặc sắc cho người đọc.

+ Thể hiện nỗi đau đớn, sự đồng cảm, thấu hiểu của chàng trai trước sự ra đi của người mình yêu.

+ Khối đá tan thành nước, hóa thành máu là nhờ sự cộng hưởng giữa cảm xúc chân thành của chàng trai với tâm nguyện của cô gái. Chi tiết này như thể hiện sự thanh thản của cô gái khi được gặp lại người mà mình mong mỏi, nhớ nhung.

Câu 5.

+ Tình yêu giữa Nguyễn Sinh và cô gái: Đó là một tình yêu đẹp đẽ, trong sáng nhưng bị cấm cản bởi định kiến xã hội.

+ Khát vọng về một tình yêu tự do là một khát vọng chính đáng dù ở bất kì thời đại nào.

+ Thời phong kiến với những giáo lí hà khắc đã trói buộc con người, ngăn cản họ đến với những bến bờ hạnh phúc, tự do.

+ Nhiều cặp đôi bị gia đình, xã hội cấm cản. Dù vậy, họ vẫn dành cho nhau những tình cảm trong sáng, thủy chung, son sắt, vượt lên mọi sự trói buộc trong xã hội lúc bấy giờ.

Câu 1.

Thể thơ: Lục bát.

Câu 2.

Thể loại: Truyện thơ Nôm bác học.

Câu 3.

- Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: câu hỏi tu từ .

- Tác dụng :

+ Câu hỏi tu từ: Vầng trăng ai xẻ làm đôi? có tác dụng bộc lộ nỗi niềm cay đắng, xót xa vì tình duyên bị chia cắt.


Câu 4.

- Cảm hứng chủ đạo của văn bản: Sự đồng cảm, xót thương trước khát vọng hạnh phúc nhỏ nhoi mà mong manh, bấp bênh, nhiều bất trắc của nàng Kiều.

- Một số nhan đề: Vầng trăng ai xẻ làm đôi?, Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều, Đôi ngả tình duyên,...

Câu 5.

- Cách tường minh những gì nàng Kiều dặn dò Thúc Sinh khi về thăm nhà: Thúy Kiều chủ động dặn Thúc Sinh hãy tỏ rõ sự thật với Hoạn Thư, chứ không nên quanh co, giấu ngược giấu xuôi để dẫn đến những chuyện không hay về sau.

- Nhận xét về nhân vật Thúy Kiều:

+ Việc Thúy Kiều chủ động khuyên Thúc Sinh về thăm nhà và bày tỏ sự tình với vợ cả cho thấy Thúy Kiều là người thấu tình đạt lí, rất đồng cảm với Hoạn Thư khi ở trong tình huống chồng âm thầm, giấu giếm cưới vợ lẽ ở bên ngoài.

+ Hơn nữa, việc nàng Kiều khuyên Thúc Sinh hãy bày tỏ một cách thật lòng, không giấu giếm sự tình cho thấy Thúy Kiều là người đàng hoàng, trọng lễ nghĩa, muốn mọi việc được rõ ràng, minh bạch, không muốn lừa dối người khác.

Câu 1.

Nhân vật trữ tình: Thúy Kiều.

Câu 2.

Hai phép tiểu đối:

- Lá gió/ cành chim.

- Sớm đưa Tống Ngọc/ tối tìm Trường Khanh.

Câu 3.

- Cách ngắt nhịp: 2/1/3/2 (Giật mình/, mình/ lại thương mình/ xót xa).

- Tác dụng:

+ Nhịp thơ thay đổi chậm lại so với các dòng thơ trước, trở thành khoảng lặng diễn tả nỗi cô đơn tê tái; khoảnh khắc đối thoại với chính mình với sự tự ý thức phẩm giá của nàng Kiều.

+ Tạo nhịp điệu cho đoạn thơ, gây ấn tượng cho người đọc.

Câu 4.

Hai dòng thơ đưa đến khái quát mang tính triết lí về mối quan hệ giữa cảnh và tình: có sự tương đồng giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, cho thấy nỗi sầu từ lòng người như lan tỏa sang cả cảnh vật.

Câu 5.

- Tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích là “nỗi thương mình”: Kiều ý thức rất rõ về cảnh ngộ, nỗi cô đơn tận cùng khi phải sống trong lầu xanh nhơ nhớp. Trong hoàn cảnh ê chề, Thuý Kiều đã có ý thức về nhân phẩm, giá trị nhân cách bản thân, ý thức về quyền sống của mình.

- Ý nghĩa: Nỗi thương mình của Thúy Kiều trong đoạn trích đã phản ánh sự thức tỉnh về quyền sống của cá nhân con người. Con người đã ý thức về phẩm giá, nhân cách của bản thân mình, đòi quyền sống của cá nhân - đây là một trong những biểu hiện mới mẻ của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII.