Lý Huệ Cường
Giới thiệu về bản thân
Đặc điểm: - Dân số đông - Tỉ lệ gia tăng dân số thấp, có xu hướng giảm. - Cơ cấu dân số già. - Phân bố dân cư không đều. - Tỉ lệ dân thành thị cao, tăng nhanh. Ảnh hưởng của cơ cấu dân số: - Thuận lợi: + Giảm sức ép dân số đến sự phát triển kinh tế - xã hội. - Khó khăn: + Thiếu lao động. + Chi phí phúc lợi cho người già lớn.
- Địa hình Trung Quốc rất đa dạng; trong đó núi, sơn nguyên, cao nguyên chiếm hơn 70% diện tích lãnh thổ. - Trên lục địa, địa hình thấp dần từ tây sang đông, tạo ra hai miền địa hình khác nhau: * Miền Đông: Có địa hình chủ yếu là đồng bằng và đồi núi thấp. - Các đồng bằng châu thổ: Đông Bắc, Hoa Bắc, Hoa Trung và Hoa Nam có đất phù sa màu mỡ, là những vùng nông nghiệp trù phú, dân cư tập trung đông đúc. - Phía đông nam có địa hình đồi núi thấp, độ cao trung bình dưới 400 m, chủ yếu là đất feralit, thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp, cây ăn quả nhiệt đới và cận nhiệt. * Miền Tây: - Tập trung nhiều dãy núi cao, đồ sộ (Hi-ma-lay-a, Côn Luân, Thiên Sơn,...), sơn nguyên, cao nguyên (Tây Tạng, Vân Quý,...), bồn địa (Ta-rim, Duy Ngô Nhĩ, Tuốc-phan,...) và hoang mạc (Tác-la Ma-can, Gô-bi,...). - Địa hình hiểm trở và chia cắt mạnh; loại đất phổ biến là đất xám hoang mạc và bán hoang mạc nghèo dinh dưỡng, khô cằn nên nhìn chung điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sản xuất, một số nơi có thể trồng rừng và trên các cao nguyên có thể phát triển đồng cỏ chăn nuôi gia súc.
a) Biểu đồ phù hợp Biểu đồ đường là phù hợp nhất để thể hiện sự thay đổi, biến động của quy mô GDP theo thời gian. b) Nhận xét - Giai đoạn 2000–2010: GDP tăng liên tục và mạnh mẽ, từ 151,7 tỷ USD lên 417,4 tỷ USD (tăng gần 2,8 lần). Tăng nhanh nhất 2000–2010. - Giai đoạn 2010–2020: GDP giảm, từ 417,4 xuống 346,7 (2015) và 338,0 (2020). Nguyên nhân: khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dịch bệnh, bất ổn chính trị. - Tổng thể: Nam Phi có tốc độ phát triển tốt trong giai đoạn đầu, nhưng sau đó tăng trưởng chậm lại và có xu hướng giảm.
Khí hậu: - Đa dạng, phức tạp: Có đủ các kiểu từ ôn đới đến nhiệt đới; phân hóa mạnh Bắc-Nam, Đông-Tây. - Chịu ảnh hưởng gió mùa: Đông Nam ấm ẩm, mưa nhiều; Tây Bắc khô hạn. Thiên tai thường xảy ra. Sông ngòi: - Nhiều sông lớn: Hoàng Hà, Trường Giang đều chảy về Đông. Nguồn nước phong phú nhưng phân bố không đều. - Tiềm năng thủy điện lớn, nhưng lũ lụt thường xảy ra. Ảnh hưởng kinh tế: Thuận lợi: Phát triển nông nghiệp đa dạng; nước cho tưới tiêu, giao thông, công nghiệp; thủy điện dồi dào; đồng bằng màu mỡ. Khó khăn: Tây khô hạn, phát triển hạn chế; thiên tai gây thiệt hại; phân bố nước không đều; giao thông vùng núi khó khăn.
Câu1:
Bài làm
Bài thơ “Than đạo học” của Tú Xương là một tác phẩm giàu giá trị nội dung và nghệ thuật, thể hiện sâu sắc thực trạng suy thoái của nền Nho học trong xã hội đương thời. Ngay từ hai câu đầu, tác giả đã bộc lộ nỗi chán ngán trước cảnh đạo học sa sút: “Đạo học ngày nay đã chán rồi,/ Mười người đi học, chín người thôi”. Những hình ảnh “cô hàng bán sách lim dim ngủ”, “thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi” cho thấy không khí học hành uể oải, thiếu sinh khí. Đặc biệt, các hình ảnh so sánh “sĩ khí rụt rè gà phải cáo”, “văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi” đã khắc họa sự nhút nhát, thực dụng và xuống cấp của giới Nho sĩ. Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, sử dụng ngôn ngữ gần gũi, giàu tính khẩu ngữ và nhiều từ láy như “lim dim”, “nhấp nhổm”, “rụt rè”, “liều lĩnh”. Nghệ thuật trào phúng, cách nói mỉa mai, hình ảnh so sánh độc đáo giúp tiếng cười trở nên sâu cay. Qua đó, Tú Xương không chỉ phê phán hiện thực mà còn thể hiện nỗi xót xa trước sự suy tàn của đạo học và những giá trị tinh thần truyền thống.
Câu2
Bài làm
Học tập là con đường quan trọng giúp mỗi người mở rộng hiểu biết, rèn luyện bản thân và chuẩn bị hành trang cho tương lai. Đối với học sinh, ý thức học tập càng có ý nghĩa quan trọng bởi đây là giai đoạn hình thành kiến thức, kĩ năng và những phẩm chất cần thiết. Tuy nhiên, bên cạnh nhiều học sinh có tinh thần học tập nghiêm túc, vẫn còn một bộ phận chưa có ý thức đúng đắn trong học tập. Đây là vấn đề cần được quan tâm và thay đổi. Ý thức học tập là sự tự giác, chủ động và có trách nhiệm của mỗi học sinh đối với việc học. Người có ý thức học tập không chỉ học khi thầy cô, cha mẹ nhắc nhở mà biết tự đặt mục tiêu, lập kế hoạch và cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Trong thực tế, nhiều học sinh hiện nay có ý thức học tập tốt. Các bạn chăm chú nghe giảng, tích cực phát biểu, chủ động tìm hiểu kiến thức và biết sắp xếp thời gian giữa học tập, nghỉ ngơi và hoạt động ngoại khóa. Khi gặp bài khó, các bạn không dễ dàng bỏ cuộc mà cố gắng tìm cách giải quyết. Đây là biểu hiện đáng trân trọng, bởi kết quả học tập tốt trước hết xuất phát từ sự tự giác và nỗ lực của bản thân. Tuy nhiên, vẫn có một số học sinh chưa coi trọng việc học. Có bạn học tập đối phó, chỉ học khi sắp kiểm tra; có bạn lười làm bài, thường xuyên chờ đợi sự nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô. Một số bạn dành quá nhiều thời gian cho trò chơi điện tử, mạng xã hội hoặc những hoạt động giải trí mà sao nhãng nhiệm vụ học tập. Nguyên nhân của tình trạng này có thể xuất phát từ việc chưa xác định được mục tiêu học tập, thiếu phương pháp học phù hợp, ham vui hoặc chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của việc học. Bên cạnh đó, sự thiếu đồng hành của gia đình và những tác động từ môi trường xung quanh cũng có thể ảnh hưởng đến thái độ học tập của học sinh. Ý thức học tập kém không chỉ khiến kết quả học tập giảm sút mà còn hình thành thói quen thiếu trách nhiệm, thiếu kiên trì. Ngược lại, ý thức học tập tốt giúp học sinh tích lũy kiến thức, rèn luyện tính tự lập, khả năng giải quyết vấn đề và bản lĩnh trước khó khăn. Hơn nữa, học tập không chỉ nhằm đạt điểm cao mà còn giúp mỗi người hoàn thiện bản thân và có khả năng đóng góp cho gia đình, xã hội trong tương lai. Để nâng cao ý thức học tập, trước hết mỗi học sinh cần xác định cho mình mục tiêu rõ ràng và hiểu rằng học tập là trách nhiệm của chính mình. Mỗi người nên xây dựng thời gian biểu hợp lí, tập trung trong giờ học, chủ động làm bài và ôn tập thường xuyên. Khi gặp khó khăn, cần mạnh dạn hỏi thầy cô, bạn bè thay vì bỏ cuộc. Gia đình và nhà trường cũng cần động viên, hướng dẫn học sinh bằng sự quan tâm và phương pháp phù hợp, tránh tạo áp lực quá mức. Là học sinh, em nhận thức rằng ý thức tự giác chính là yếu tố quan trọng quyết định sự tiến bộ của bản thân. Vì vậy, em cần chủ động hơn trong học tập, biết sử dụng thời gian hợp lí, nghiêm túc hoàn thành nhiệm vụ và không ngừng cố gắng khi gặp khó khăn. Mỗi ngày tiến bộ một chút sẽ giúp chúng ta xây dựng nền tảng vững chắc cho tương lai. Tóm lại, ý thức học tập là một phẩm chất cần thiết đối với mỗi học sinh. Kiến thức có thể được truyền đạt từ thầy cô và sách vở, nhưng sự tiến bộ thực sự chỉ đến khi mỗi người có tinh thần tự giác và nỗ lực. Khi học sinh biết học tập có trách nhiệm, không chỉ bản thân các em tiến bộ mà gia đình, nhà trường và xã hội cũng có thêm những công dân tốt trong tương lai.
Câu1:Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, mỗi câu 7 chữ).
Câu2:Bài thơ viết về thực trạng nền Nho học và những người theo đạo học trong xã hội Việt Nam đương thời, qua đó thể hiện thái độ châm biếm, phê phán của Tú Xương.
Câu3:Tác giả cho rằng đạo học đã “chán” vì Nho học đang suy thoái, người học ngày càng ít và việc học không còn được coi trọng.Điều đó được thể hiện qua câu: “Mười người đi học, chín người thôi”. Không khí học hành cũng trở nên uể oải, thiếu nghiêm túc: cô hàng sách thì “lim dim ngủ”, thầy khóa thì “nhấp nhổm ngồi”.
Câu4:Tú Xương sử dụng nhiều từ láy như,lim dim,nhấp nhổm, rụt rè, liều lĩnh.Những từ láy này gợi lên hình ảnh cụ thể, sinh động về cảnh học hành sa sút.Đồng thời tạo sắc thái hài hước, châm biếm, mỉa mai.Qua đó, tác giả làm nổi bật sự uể oải, thiếu khí phách và hỗn tạp của những người theo Nho học lúc bấy giờ.
Câu5:Bài thơ “Than đạo học” thể hiện nỗi buồn và thái độ châm biếm, phê phán của Tú Xương trước sự suy thoái của nền Nho học trong xã hội đương thời. Qua việc khắc họa cảnh người học ít, người dạy chán nản, sĩ khí và văn chương sa sút, tác giả cho thấy sự khủng hoảng của đạo học và những con người theo đạo học, đồng thời thể hiện nỗi xót xa trước sự thay đổi của xã hội.